Việt Nam: Đã Biết Mở Mắt Bảo Vệ Chủ Quyền? Tại Sao Lại Chơi Trò Ném Đá Giấu Tay?
Trích VietBao Online
Phạm Trần
Hoa Thịnh Đốn – Trước đe dọa ngày càng nghiêm trọng mất chủ quyền trên Biển Đông và sợ bị Tầu Bắc Kinh chiếm vĩnh viễn hai Quần đảo Hòang Sa và Trường Sa, Nhà nước Cộng sản Việt Nam đã biết mở mắt la làng, nhưng không dám chủ động mà lại mượn tay người khác, kể cả người nước ngòai.
Bằng chứng đã diễn ra tại Hà Nội qua cuộc Hội thảo được báo chí trong nước gọi là “khoa học quốc tế” với chủ đề: “Biển Đông: Tăng cường hợp tác vì an ninh và phát triển ở khu vực” do Học viện Ngoại giao Việt Nam phối hợp với Hội Luật gia Việt Nam tổ chức trong hai ngày 26 và 27/11 (2009).
Học viện Ngọai giao là trường Ngọai giao duy nhất ở Việt Nam trực thuộc Bộ Ngọai giao và Hội Luật gia Việt Nam cũng do Nhà nước cho phép thành lập và chịu sự kiểm sóat của Chính phủ giống như các Tổ chức khác nằm trong Mặt trận Tổ Quốc, cánh tay ngọai vi của đảng Cộng sản Việt Nam.
Vì vậy Cuộc Hội thảo về Biển Đông được tổ chức với sự bảo trợ của đảng và nhà nước, nhưng có lẽ vì sợ cái bóng của Trung Hoa mà chính phủ CSVN đã không dám đứng tên tổ chức. Ngay cả báo chí trong nước cũng không nói gì đến Cuộc Hội thảo quan trọng này cho đến sau khi khai mạc thì các báo đều được lệnh loan tin nhưng không bình luận.
Hai báo điện tử Tuần Việt Nam và Việt Nam Net của Bộ Thông tin và Truyền Thông thì ngòai việc thông tin còn liên tục phổ biến nhiều bài viết về cuộc tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông giữa các nước trong vùng và giữa Việt Nam với Trung Hoa.
Riêng báo Việt Nam Net còn phổ biến một số bài viết dựa theo các cuộc phỏng vấn các Học gỉa nước ngòai có mặt tại Cuộc Hội thảo phát biểu có lợi cho phía Việt Nam và chống lại chủ trương dành chủ quyền các quần đảo lớn ở Biển Đông của Bắc Kinh, trong đó có hai quần đảo Hòang Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Đa số các chuyên gia Quốc tế còn tuyên bố không chấp nhận đòi hỏi mà họ gọi là “vô lý” của Trung Hoa về vùng Đặc quyền Kinh tế do Trung Hoa tự vẽ từ năm 1947 có hình “Lưỡi Bò” hay “ranh giới lưỡi bò” hoặc “Đường Chín Đọan”, chiếm khoảng 75% diện tích trên Biển Đông.
Như vậy, khoảng 25% còn lại phải chia cho tất cả các nước Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, và Việt Nam, mỗi nước được trung bình 5%.
Tham dự Hội nghị, theo Thông báo của Bộ Ngọai giao Việt Nam thì: “Trong số 150 đại biểu, có 54 đại biểu quốc tế đến từ các trung tâm nghiên cứu có uy tín ở 22 quốc gia bao gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái lan, Lào, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, và các nước khác như Ô-xtrây-li-a (Australia), Mỹ, Nga, Anh, Pháp, Đức, Nauy, Thụy Điển, Canada. Đại diện của một số sứ quán nước ngoài tại Hà Nội cũng tham gia hội thảo.
Đại biểu Việt nam đại diện cho các cơ quan nghiên cứu, một số Bộ, ngành như Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Tài nguyên Môi trường, Tập đoàn dầu khí quốc gia.”
Bản tin của phía Việt Nam không đề cập đến sự hiện diện của 6 chuyên viên đến từ Trung Hoa và 3 người khác đến từ Đài Loan, nhưng cho biết Hội thảo tập trung vào thảo luận 3 đề tài chính:
1. Tầm quan trọng của Biển Đông đối với hoà bình và an ninh khu vực; vị trí của Biển Đông trong chiến lược của các quốc gia liên quan.
2. Nguồn gốc và diễn biến tình hình các tranh chấp hiện nay, được phân tích từ các góc độ pháp lý, chính trị và quan hệ quốc tế; đánh giá về hệ luỵ đối với an ninh và hoà bình khu vực của những diễn biến mới đây trên Biển Đông.
3. Đánh giá về hiệu quả của các cơ chế hiện có trong khu vực nhằm kiềm chế căng thẳng gia tăng và thúc đẩy hợp tác; chia sẻ các mô hình hợp tác hiệu quả; đề xuất các biện pháp thiết thực nhằm tăng cường lòng tin và đề xuất các cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các bên liên quan.
Đây là lần đầu tiên, một Hội nghị bàn về những tranh chấp và tầm mức quan trọng cua Biển Đông được Việt Nam đứng ra tổ chức có sự tham gia của các chuyên gia người nước ngòai, nhưng những ý kiến của họ chỉ được coi có giá trị trong lĩnh vực nghiên cứu và khoa học, thay vì mang ý nghĩa chính trị.
Do đó, các chuyên gia đã đưa ra những quan điểm riêng của họ mà không có tính cách đại diện cho bất kỳ nước nào.
Trong bài phát biểu khai mạc sáng 26/11/2009, Giám đốc Học viện Ngoại giao Phó giáo sư, Đại sứ Dương Văn Quảng, theo tin của Bộ Ngoại giáo đã nhấn mạnh:” Hoà bình, hợp tác và phát triển tiếp tục là xu thế chủ đạo trong quan hệ quốc tế đương đại; nhưng điều đáng quan tâm là những tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ giữa nhiều bên liên quan không hề thuyên giảm ở Biển Đông; những diễn biến gần đây, nhất là các hành động khẳng định chủ quyền về mặt pháp lý, kèm theo đó là những hành vi đơn phương nhằm tăng cường sự kiểm soát thực địa, tranh chấp các nguồn năng lượng và tài nguyên đã làm cho tình hình thêm phức tạp. Trong bối cảnh đó, giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định, đảm bảo tự do hàng hải, bảo vệ môi trường và nguồn tài nguyên thiên nhiên, cũng như hợp tác cứu hộ, cứu nạn ngư dân trong khu vực Biển Đông …đòi hỏi các bên liên quan phải cùng nhau hành động và tìm ra các giải pháp hữu hiệu nhằm hạn chế những tác động tiêu cực của tình hình. Nói cách khác, việc tăng cường hợp tác, tìm kiếm các phương thức giải quyết tranh chấp và xử lý các thách thức để duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông ngày càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.”
Lời tuyên bố của Qủang khi đề cập đến “các hành động khẳng định chủ quyền về mặt pháp lý, kèm theo đó là những hành vi đơn phương nhằm tăng cường sự kiểm soát thực địa, tranh chấp các nguồn năng lượng và tài nguyên” thì không ai có thể hiểu sai là viên chức của Bộ Ngọai giao Việt Nam đã có ý muốn nói đến Trung Hoa mà không nói đích danh. Nhưng Qủang cũng không che dấu được thái độ hòa hoãn và muốn tránh xung đột của phiá Việt Nam khi đứng ra tổ chức Hội nghị này.
Vì vậy mà Dương Văn Quảng đã muốn nói rõ với các tham dự viên rằng phía Việt Nam “sẵn sàng chia sẻ những kết quả nghiên cứu chuyên sâu về Biển Đông nhằm góp phần nâng cao không chỉ hiểu biết của giới học giả, mà cả nhận thức của giới hoạch định chính sách và của công chúng về các vấn đề liên quan đến Biển Đông để từ đó thúc đẩy nỗ lực của các bên trong khu vực với mục đích duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông vì lợi ích của mỗi bên liên quan và vì hòa bình, an ninh và phát triển của cả khu vực.”
Các học gỉa nước ngòai thồng nhất quan điểm cho rằng tuy tình hình tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông có căng thẳng, nhưng không ai nghĩ sẽ có xung đột lớn, dù có thể có các cuộc “va chạm” lẻ tẻ.
Vẫn theo tin của Bộ Ngọai giao Việt Nam thì : “Các đại biểu đều nhất trí với đánh giá rằng Biển Đông có ý nghĩa quan trọng về mặt chiến lược an ninh, kinh tế (vận tải và tài nguyên) không chỉ đối với các quốc gia xung quanh vùng biển này mà còn đối với nhiều nước khác ngoài khu vực; do đó, Biển Đông có ý nghĩa lớn đối với sự thịnh vượng, nền hòa bình, an ninh khu vực và thế giới.”
DÙNG BÀN TAY NGƯỜI NGÒAI
Nhưng trái với lối đưa tin có vẻ ôn hòa, tránh đụng chạm với nước khổng lồ Trung Hoa của Bộ Ngọai giao thì Báo Điện tử Việt Nam Net của Bộ Thông tin và Truyền Thông lại cho phổ biến rộng rãi quan điểm của nhiều chuyên gia dự Hội nghị lên án mưu đồ của phía Trung Hoa muốn biến Biển Đông thành “cái hồ” riêng của Bắc Kinh để thao túng quyền lợi, làm thiệt hại quyền lợi cho các nước trong khu vực và đe dọa an ninh Thế giới.
Báo này trích lời ông Nazery Khalid, nghiên cứu viên cao cấp của Trung tâm Công nghiệp và Kinh tế biển Malaysia, nói: “Năm tới, với tư cách Chủ tịch ASEAN, Việt Nam cần có những hành động cụ thể để thúc đẩy đối thoại giữa các bên tranh chấp, giữa ASEAN và Trung Quốc. Cần phải ngồi lại với nhau và có ý chí chính trị thực sự thì mới có thể giảm tranh chấp và hướng tới hợp tác được. Tranh chấp ở biển Đông là vấn đề lâu dài, nhưng chúng ta cần phải hành động hướng về phía trước, chứ không phải níu chân nhau, giằng co nhau bằng các yêu sách chồng chéo”. Ông Khalid cũng cho rằng yêu sách đường Lưỡi bò của Trung Quốc dựa trên những căn cứ không thỏa đáng và điều đó đã tạo ra tranh cãi.” (VNNET, 28-11-2009)
Báo VNNET viết tiếp : “Nhiều học giả nổi tiếng thế giới trong lĩnh vực hàng hải và khu vực biển Đông, Đông Nam Á, châu Á – Thái Bình Dương như Mark J.Valencia, Ramses Amer, Carlyle A.Thayer…, đã đi thẳng vào phân tích nguyên nhân dẫn tới tình trạng gia tăng căng thẳng trong thời gian gần đây ở biển Đông.
Sức mạnh của nền kinh tế, chương trình hiện đại hóa quân đội, nhu cầu năng lượng lớn của Trung Quốc và cạnh tranh chiến lược giữa nước này với các nước lớn khác được nhìn nhận như là một nguyên nhân làm tăng mối lo ngại của các nước liên quan đối với yêu sách của Trung Quốc trên biển Đông. Gần đây, việc các nước trong vùng nộp báo cáo về thềm lục địa kéo dài theo yêu cầu của Liên Hiệp Quốc đã trở thành dịp để các nước khẳng định chủ quyền, làm dấy lên làn sóng khẳng định – phản đối giữa các nước có tranh chấp chủ quyền trên biển Đông. Điển hình nhất là việc Trung Quốc chính thức đưa ra đường Lưỡi bò để phản đối các nước khác nộp báo cáo về thềm lục địa kéo dài. Một số chuyên gia cho rằng yêu sách đường Lưỡi bò của Trung Quốc là không rõ ràng và các căn cứ mơ hồ, khiến tình hình thêm căng thẳng.”
Ông Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ CSVN được báo chí trong nước trích dẫn cho biết nhiều tham dự viên muốn Trung Quốc cần trả lời dư luận về đường Lưỡi bò
Ông nói : “Bản thân trong giới nghiên cứu của Trung Quốc cũng chưa có sự thống nhất về vấn đề này. Hôm nay, trong trao đổi, phía học giả Trung Quốc cũng chỉ nhắc lại đường biên giới trong vùng nước truyền thống, lịch sử, chủ quyền của Trung Quốc từ lâu. Cũng có nhà nghiên cứu Trung Quốc nói rằng chính phủ của họ chưa bao giờ có ý kiến chính thức về đường chữ U đứt đoạn, đó không phải là đường biên giới trên biển mà Trung Quốc chỉ đưa ra thể hiện chủ quyền của mình thôi. Trên thực tế trong những tuyên bố của mình Trung Quốc cũng đầy mâu thuẫn. Đó là những vấn đề các học giả phải trao đổi thêm và phía Trung Quốc cần phải trả lời trước dư luận.” (Theo Hương Giang,VNNET, 28-11-2009)
Các Học giả Trung Hoa dự Hội nghị đã phản bác các yêu cầu thảo luận vấn đề Chủ quyền của các Học giả Việt Nam, trong đó có Tiến sỹ Sự học Nguyễn Nhã. Họ nói rằng hai quần đảo Hòang Sa và Trường Sa là của Trung Hoa từ đời Nhà Tống, nhưng không trưng dẫn bất cứ tài liệu nào để chứng minh.
Nhưng cũng đúng vào ngày khai mạc Cuộc Hội thảo (26/11/2009) thì Trung Hoa đã bất ngờ cử 2 tàu ngư chính đến quần đảo Hoàng Sa và cử tàu y tế đến quần đảo Trường Sa của Việt Nam, một hành động có chủ mưu xác nhận chủ quyền.
Vì vậy, phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, Nguyễn Phương Nga đã phản ứng: “ Việc Trung Quốc cử tàu đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này.”
Thông tấn xã Việt Nam viết tiếp : “ Bà Phương Nga cho biết, ngay sau khi được tin nêu trên, ngày 27/11, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gặp Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam để phản đối và yêu cầu phía Trung Quốc chấm dứt các hoạt động này, không tiếp tục có các hành động làm phức tạp thêm tình hình tại Biển Đông, góp phần duy trì hòa bình, ổn định và hợp tác tại khu vực.”
NÉM ĐÁ GIẤU TAY
Song song với nỗ lực tìm kiếm đồng minh chống lại Trung Hoa một cách gián tiếp thì nhà nước CSVN còn dùng Tổ chức “Quỹ nghiên cứu biển Đông” để tuyên truyền bảo vệ chủ quyền các hải đảo ờ Biền Đông.
Qũy này, trên nguyên tắc là một tổ chức tư nhân ra đời năm 2007, nhưng hầu hết các Bài nghiên cứu của các Tác gỉa lại được báo Tuần Việt Nam của Bộ Thông tin và Truyền thông của nhà nước CSVN phổ biến rộng rãi.
Tỷ dụ như trong “Thư ngỏ gửi nhân dân và chính phủ các nước Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia và Việt Nam về vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông” phổ biến ngày 28/11/2009, báo Tuần Việt Nam viết : “ LTS: Xung quanh những tranh cãi về biển Đông lâu nay, để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam xin đăng lại bức thư ngỏ của Quỹ nghiên cứu biển Đông để mọi người cùng thảo luận.”
Thư ngỏ bắt đầu : “ Biển Đông tiếp giáp với Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Việt Nam và Trung Quốc. Biển Đông rất quan trọng cho kinh tế, giao thông vận tải và an ninh của các nước này. Đối với quốc tế, Biển Đông là một trong những tuyến hàng hải quan trọng nhất trên thế giới; nó đóng vai trò sống còn cho thịnh vượng kinh tế của Đông Nam Á, Nhật Bản, Triều Tiên, Đài Loan và tất cả các quốc gia giao thương quan trọng.
Thềm lục địa cũng sẽ được phân chia theo nguyên tắc UNCLOS ( United Nations Convention on the Law of the Sea, Luật Biển Của Liên Hiệp Quốc ). Bản đồ cho thấy tuyên bố của Trung Quốc đi ngược lại với cách phân chia này.
Các vùng lãnh hải 12 hải lý của Quần đảo Hoàng Sa, Quần đảo Hoàng Sa và Scarborough Shoal không được tính vào vùng phân chia này, cho tới khi các tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo này và Scarborough Shoal được giải quyết.
Do vậy, tranh chấp Biển Đông là mối quan tâm của tất cả chúng ta. Trong những nước tranh chấp thì Trung Quốc là mối đe dọa lớn nhất đối với tất cả các nước còn lại. Trước hết, trong khi hầu hết các đòi hỏi trái ngược nhau chỉ liên quan đến chủ quyền đối với các đảo nhỏ, đá và bãi ngầm thì Trung Quốc là nước duy nhất tuyên bố chủ quyền đối với gần như toàn bộ Biển Đông.
Thứ hai, quân đội của Trung Quốc lớn nhất và cũng là quân đội phát triển nhanh nhất trong vùng.
Thứ ba, Trung Quốc là quốc gia duy nhất trong những nước tranh chấp có truyền thống sử dụng vũ lực để chiếm các đảo của các nước khác đang trong tình trạng tranh chấp.”
Thư ngỏ đã mỉa mai Trung Hoa : “ Tuyên bố của Trung Quốc trong Biển Đông có thể so sánh với việc một người tuyên bố rằng anh ta là người duy nhất sở hữu toàn bộ ô xy trong không khí. Không những tuyên bố này không có cơ sở pháp lý và bất công, mà nếu chúng trở thành sự thực thì Đông Nam Á có thể bị Trung Quốc thống lĩnh và các quốc gia khác cần đi qua Biển Đông sẽ bị ngăn chặn trong quá trình tranh chấp….”
Do đó Qũy này kêu gọi : “Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Việt Nam, ASEAN và các quốc gia liên quan khác phải cùng nhau hành động để bảo vệ những quyền này, chống lại tham vọng bất công của Trung Quốc.”
Với lối hành sử dùng bàn tay người khác để chống Trung Hoa, đảng CSVN có lợi gì trong chiến dịch tạo áp lực bằng nước bọt này ?
Vì vậy câu hỏi đặt ra với đảng CSVN là : Tại sao lại không công khai ra mặt đi đầu cuộc vận động chống ngoại xâm mà lại ném đá giấu tay, hay vì sợ bị mất đầu mà chơi trò mị dân này ? -/-
Phạm Trần
(12/09)
Gà trống và cáo *
Trích NguoiViet Boston
Nguyễn Thanh Ty
Chuyện xưa:
Truyện cổ tích dân gian kể rằng một buổi sáng tinh mơ nọ, có con gà trống đang đứng trên cành cây trong vườn cất tiếng gáy vang, báo hiệu cho nông gia một ngày mới bắt đầu thì một con chồn ở cạnh bìa rừng chợt xuất hiện. Cáo muốn bắt gà ăn thịt, tính nhảy lên vồ, nhưng sợ gà bay lên cao hơn nên suy nghĩ dùng mưu kế để lừa.
Bằng giọng đường mật hết sức ngọt ngào, Cáo ngước mặt nói:
- Anh gà trống thân mến của tôi ơi! Tiếng gáy của anh nghe hay lắm nhưng vẫn không bằng của cha anh. Ngày xưa, mỗi lần gáy ông ấy vươn cổ cao lên và nhắm mắt lại nên giọng nghe thánh thót, véo von hơn nhiều. Nếu anh bắt chước được như cách cha anh thì tiếng gáy của anh sẽ có “chất lượng cao” và sẽ “cực kỳ hoành tráng” nhất trong làng này.
Gà trống nghe bùi tai, thích chí, tưởng thật, liền nhắm tít hai mắt lại, rướn cổ lên thật cao, cố gáy cho hay bằng cha mình. Chỉ đợi có giây phút đó, cáo phóng lên nhe hàm răng chơm chởm bén như dao cạo, ngoạm vào cổ gà, chạy biến vào rừng.
Chuyện nay:
Sau năm 1975, bầy gà trống, gà mái, gà già, gà trẻ, gà giò, cả gà con mới nở… ở miền Nam đều bị bầy cáo cộng của họ Hồ ly truy đuổi, bắt ăn thịt, nhai xương, đã bỏ chuồng, bỏ của chạy thục mạng ra biển, vào rừng, vô núi… để tìm đường trốn thoát nanh vuốt của chúng.
Hồ cáo vốn dĩ là loài chỉ biết đi ăn trộm, ăn cướp để sống, hoặc chỉ chuyên ăn bám, hút máu kẻ khác để tồn tại chớ không biết tự mình kiếm ăn. Chỉ mươi năm sau, tài nguyên, của cải trong nước đã bị cạn kiệt, mọi người đều lâm cảnh nghèo xơ xác, đời sống cơ cực lầm than khốn khổ, không còn gì béo bở nữa để chúng xà xẻo, kiếm chác liếm láp nên cả bọn bị đói giơ xương, nhe răng, vêu mõm.
Chúng liền nhón chân, nghễnh cổ nhìn ra hải ngoại, xa nửa vòng trái đất, một nơi có nhiều bò sữa và gà tồ rất thơ ngây, ngờ nghệch, dễ tin đang sống sung túc, phây phả. Đám bò sữa, gà tồ này chính là nạn nhân khi trước đã bị chúng rượt cắn chí chết. Từ hai bàn tay trắng với cái quần xà lỏn lúc bỏ chạy, giờ đây đứa nào cũng nhà lầu, xe hơi trông béo ngậy, béo phây phây rất bắt mắt. Trông mà thèm nhỏ rãi. Chúng đã tìm ra một nơi có thể vớ bẫm. Phen này chắc hẵn kiếm ăn to. (Tú Xương)
Ngược dòng thời gian, mươi năm trở lại đây nếu không nhờ sữa và đô của chúng gửi về tiếp máu thì dòng họ Hồ cáo nhà ta đã ra ma nằm ngoài hoang dã rồi. Đang lúc thập tử nhất sinh chờ “chuyển sang từ trần” đi theo Boác, bỗng được sâm nhung, loại đô tươi màu xanh, của đám gà hải ngoại luôn dễ mũi lòng từ bi, bác ái, đổ về ồ ạt để cứu sống cái thây ma sắp đi chuyến tàu suốt. Từ một, hai tỉ đô ban đầu dần dà đến nay lên tới con số 8 tỉ đô mỗi năm. Đảng Hồ cáo nhờ đó sống lại. Mà còn sống khoẻ, sống hùng nữa. Hồ ly già, chồn trẻ, cáo tơ… con nào, con nấy giờ đây đều béo tốt phương phi, mặt đỏ tía, bóng nhẫy, bụng phệ ra như bụng ông địa múa lân, trở thành bọn tư bản đỏ.
Ăn no, giàu có, hưởng thụ phè phỡn xong, Hồ cáo bỗng giật mình, sờ sau gáy, nghiệm ra rằng cái đám gà tồ, bò sữa này sở dĩ chúng nó sớt máu ra nuôi ta mập thây, mập mặt cũng chỉ là sự bất đắc dĩ vì thân nhân ruột thịt chúng còn kẹt lại chốn hang hùm, ổ cáo đành phải bấm bụng tiếp tế về cứu nguy người nhà chứ chúng có thương xót gì mình. Rồi đây chúng sẽ “phăng teo” chúng ta lúc nào không hay khi chúng có đủ sức mạnh. Thực lực của chúng hiện nay như “lưỡi gươm treo trên đầu”. Nỗi lo gan ruột như bệnh nan y đáng sợ . Phải nghĩ cách “quản lý” chúng lại thật chặt mới được. Vừa kiểm soát chúng, vừa bóp cổ, móc hầu bao chúng mới là kế vẹn toàn.
Thế là bọn Hồ cáo khẩn cấp họp nhau lại tính kế, giở bổn cũ ngón nghề gião quyệt ra soạn lại, bày ra một cú lừa khác, một kịch bản tinh vi hơn, thâm độc hơn để “ngoạm cổ” những con gà ngờ nghệch ở hải ngoại.
Đó là trò lừa gạt mới có tên là Nghị quyết 36. Trò lừa này được che dấu dưới lớp sơn xanh xanh, đỏ đỏ trông rất loè loẹt bằng những từ ngữ đầy nhân ái, đậm đà bản sắc dân tộc như: “Đảng và Nhà nước ta luôn luôn coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách rộng mở và biện pháp cụ thể nhằm tạo điều kiện ngày càng thuận lợi hơn cho đồng bào về thăm đất nước, người thân, đầu tư, kinh doanh, hợp tác khoa học – công nghệ, hoạt động văn hóa – nghệ thuật” để dụ khị mấy con gà tồ to xác nhưng rất ngu ngơ và nhẹ dạ. Chúng đeo mặt nạ che mặt, giở giọng lưỡi ngon ngọt gọi đám gà tha phương cầu thực xứ người là “khúc ruột ngàn dặm” là “máu thịt của Việt Nam” là “bộ phận không thể tách rời”, là đủ thứ ngọt mật thay cho lời sĩ nhục năm xưa là “đồ đĩ điếm, phản quốc, bám chân đế quốc liếm bơ thừa sữa cặn” để ca bài ca con cá nó sống vì nước, rù quến đám gà thơ ngây có trí nhớ rất ngắn, đem tiền của, tài sản dành dụm bấy lâu về làm “Doanh nhân kiều bào” góp phần vào sự nghiệp xây dựng đất nước, nhưng thực chất là để nuôi béo chúng.
Đổi lại, cáo hứa sẽ dọn đại yến “chùm khế ngọt” với “thịt tươi sống chân dài” để chiêu đãi và sẵn sàng hết lời xun xoe, bợ đỡ, ca tụng, tung hê đám gà tồ u tối là “Dziệt kiều yêu nước”.
Bước đầu kịch bản Nghị quyết 36 đã thu được kết quả mùa gặt ác. Đảng Hồ đã vớ bẩm được mấy vố khá.
Xin kể ra đây vài trường hợp tiêu biểu của đám gà tồ ngờ nghệch đã bị cáo ngoạm cổ.
Được bọn cáo họ Hồ ve vãn vuốt đầu, xoa trán, một số gà tồ lưu vong sướng rên người, vội quên ngay cái cảnh lúc vừa chạy vừa vãi phân trong quần, đã hè nhau nhắm mắt kéo về… nộp mạng cho bầy cáo xơi tái.
Con gà trống Nguyễn Trung Trực, “khúc ruột ngàn dặm” Úc, về đầu tư ngân hàng, bảo hiểm bị cáo vét sạch túi lập tức. Dziệt kiều Hòa Lan, Trịnh Vĩnh Bình, vua chả giò, bán hết cơ sở kinh doanh sở tại, mang tiền về hang cáo đầu tư ngành dầu hỏa không những bị cáo tước lột trắng tay mà còn bị bỏ tù. “Bộ phận không thể tách rời” Pháp, mông xừ Nguyễn Gia Thiều, về đầu tư ngành viễn thông cũng bị cáo gài độ cho tán gia bại sản và tù tội. Dziệt kiều Nhật, con gà tồ Nguyễn An Trung, về Việt Nam đầu tư, làm Giám đốc Công ty SàiGòn Ôtô rồi cũng vào tù. Con gà tía Nguyễn Đình Hoan, Dziệt kiều Mỹ yêu nước mà không yêu Xã hội chủ nghĩa, về đầu tư giáo dục, chỉ hai năm sau liền bị vu khống tội gian lận rồi vào tù, của cải mất hết, trắng tay lại còn bị cấm rời Việt Nam. Nhưng hài hước, đắng cay nhất là Dziệt kiều gà mồi Trần Trường ở Nam Cali, làm Việt gian tay sai cho Hồ cáo, treo thờ hình Hồ râu và nón cối trong tiệm bán đồ điện tử của mình, bị người Việt tị nạn ở Little SaiGon phản đối đòi dẹp bỏ hình tượng tên sát nhân. Lúc đầu, hắn ta chống trả lại rất hung hăng con bọ xít nhưng cũng không thoát được công lý nên cuối cùng chịu trói tay, ngồi tù ba tháng. Khi được thả, hắn bồng tống vợ con chạy về Việt Nam làm Dziệt kiều yêu chủ nghĩa xã hội, đầu tư đào ao nuôi cá. Hắn hí hửng tưởng thế nào cũng được cáo tưởng thưởng cho “chùm khế ngọt” và cái giấy ban khen chức danh anh hùng cỡ như Lê văn Tám (phịa) hay Nguyễn văn Trỗi (dỏm). Ai dè Việt gian gà mồi Trần Trường bị bọn cáo xúm lại cướp sống ngay ao cá, hè nhau vặt trụi không còn một cọng lông. Cái mào gà đỏ tươi dùng để ăn nói, giờ bị xơ xác lốm đốm như hoa khế. Loại “mồng gà hoa khế” của bệnh hoa liễu. Trần Trường biến thành Trần Truồng, truồng như nhộng, trắng mắt, trắng tay, quay về lại Cali – Little SaiGon, vác mặt mo tới Sở An Sinh Xã Hội của đế quốc Mỹ, ca bài ca xã hội chủ nghĩa giẫy chết để xin tiền trợ cấp “Queo phe” sống qua ngày.
Hãy còn nhiều ví dụ lắm lắm. Chẳng hạn như đám ca kỹ, nhạc sĩ “bất tri vong quốc hận” nghe lời cáo dụ dỗ, về mua nhà ở cái gọi là “Làng nghệ sĩ”. Mua xong, nằm chưa nóng chiếu đã bị cáo cướp nhà, đuổi chạy có cờ, cười đau, khóc hận mà không dám hé môi một lời than thở. Như bọn “trí ngủ” bằng cấp đầy đầu vì hám danh mà chịu hèn. Bác sĩ họ Bùi tên Vô Tâm là một điển hình.
Như bọn ký dỏm ở Bolsa hám tiền quên nhục, thậm thò, thậm thụt, đi đường lòn giao du với cáo, lợi dụng nền tự do, dân chủ của nước sở tại, làm báo in hình cờ máu, viết lời ca tụng công đức loài Hồ ly mà cứ ngụy biện là truyền thông phải độc lập hai chiều. Nếu bọn này về Việt Nam viết báo ca ngợi đảng nọ, tổ chức kia ở hải ngoại mà đảng Hồ không tiếp đãi một chầu “cái lỗ mũi ăn trầu, cái đầu bịt khăn đống” ngay, thì đồng bào tị nạn ở hải ngoại sẽ giở nón mà bái phục. Còn ngược lại, bị bọn cáo đục cho phù mỏ thì e rằng lúc đó có hối cũng không kịp.
Bao nhiêu cái gương văn nghệ sĩ, trí thức, ký giả trong nước bị bầm dập, tả tơi, tù tội với loài chồn cáo vì viết bài “chệch sang lề trái” mà bọn ký dỏm ở Bolsa cứ nhắm mắt giả mù, bưng tai giả điếc đâu thèm biết.
Chuyện băng đảng Hồ cáo năm 2009: Đại hội Việt kiều tại hang Pắc Pó Ba Đình
Từ 21 đến 23 tháng 11 năm 2009 tại Hà Nội sẽ diễn ra cái gọi là “Hội nghị người VN ở nước ngoài toàn thế giới lần thứ nhất”, đại ngôn là “Hội nghị Dziệt kiều”, do Bộ Ngoại giao CS triệu tập, với chủ đề: “Vì một cộng đồng đoàn kết vững mạnh, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng đất nước”.
Theo cáo già Trần Trọng Toàn, phó chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước Về Người Việt Nam ở Hải ngoại loan báo là theo dự kiến sẽ có khoảng chín trăm con gà tồ, người Việt hải ngoại, từ 101 quốc gia và vùng lãnh thổ về (nạp mạng) tham dự Hội nghị.
Cũng theo lời đường mật ngọt xớt của cáo già Trần Trọng Toàn đang ve vãn thì đám gà hải ngoại sẽ cùng đám cáo (tức hàng lãnh đạo cao cấp của đảng, của bộ máy cai trị CS trung ương lẫn địa phương), ngồi lại với nhau thảo luận 4 chuyên đề: “Xây dựng cộng đồng người Việt ở nước ngoài đoàn kết vững mạnh, thành đạt và hướng về đất nước”, “Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa và truyền thống dân tộc trong cộng đồng người VN ở nước ngoài”, “Chuyên gia, trí thức kiều bào góp phần vào sự nghiệp xây dựng đất nước” và “Doanh nhân kiều bào góp phần vào sự nghiệp xây dựng đất nước”.
Mới nghe qua thấy giống y chuyện ngụ ngôn của Tây.
Chuyện ngụ ngôn gà và cáo của Lã Phụng Tiên (Jean de La Fontaine) thế kỷ 17
Bài thơ ngụ ngôn bằng tiếng Phú Lãng Sa, “Con gà và con cáo”, của Lã Phụng Tiên như lời sấm ký tiên tri từ thế kỷ 17 đến nay, đã ứng vào cái gọi là “Hội nghị Việt kiều” trúng phóc, không sai một ly ông cụ, đã được học giả Nguyễn văn Vĩnh dịch ra chữ Quốc ngữ. Trích đoạn:
Trên cành cây con gà trống đậu,
Đã khôn ngoan lại láu việc đời.
Hồ ly đến ngọt mấy lời:
- Đôi ta hết giận, tới thời hòa an.
Nay trong khắp thế gian thân ái
Tình anh em tôi lại thưa anh,
Xuống đây hôn cái tỏ tình;
Trăm nơi còn phải chạy nhanh mới cùng.
Rầy mặc sức vẫy vùng đi lại,
Tôi với anh hết hại lẫn nhau.
Từ đây anh chớ lo âu,
Khi nào có việc muốn cầu đến em,
Gọi một tiếng ngày đêm cũng lại,
Xuống đây hôn gọi ngãi đồng bào.
Gà rằng: Mừng rỡ xiếc bao!
Tin này biết lấy cách nào tỏ vui!
…
Đọc đoạn đầu lời cáo chiêu dụ gà của bài thơ ngụ ngôn khiến người ta nhớ lại lời Hồ cáo năm 1954 cũng đã kêu gọi “chuyên gia, trí thức kiều bào ở hải ngoại về quê hương góp phần vào sự nghiệp xây dựng đất nước”, nhiều con gà trống có tiếng gáy tầm cỡ trên thế giới, đã ngây thơ, tin sái cần cổ, ba chân bốn cẳng về nước, góp sức cho bọn cáo… ăn cướp, rồi bị cáo ngược đãi đến nỗi phải đi ăn mày, ăn xin cho đến chết.
Kinh nghiệm đau thương, tàn khốc của Luật sư Nguyễn Mạnh Tường, Tiến sĩ Trần Đức Thảo, Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện… vẫn còn dấu ấn đậm nét trong sách sử cận đại.
Với 2 bằng tiến sĩ lúc mới 23 tuổi tại Pháp, Luật sư Tường nghe lời Hồ kêu gọi, về nước tham gia “cách mạng”. Năm 1956 vì viết bài phê bình những sai lầm trong Cải Cách Ruộng Đất, ông đã bị tước hết mọi chức vị, quyền lợi, bị khai trừ và sống nghèo đói lây lất cho đến chết.
Tiến sĩ triết học Trần Đức Thảo cũng bị cáo lừa, năm 1951 rời Pháp, về Bắc Việt tham gia kháng chiến. Vì đố kỵ tài năng, sở học của ông nên Hồ già khinh khi, chỉ giao cho ông việc dịch các truyền đơn sang pháp ngữ. Năm 1956, lấy cớ ông viết một bài về vấn đề phát triễn tự do dân chủ cho nhóm Nhân Văn Giai phẩm, Hồ kết tội ông là phần tử phản động rồi tước hết mọi phương tiện sống. Tiến sĩ Thảo phải lang thang đi xin ăn cho đến cuối đời.
Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, về nước năm 1963, sau một đời cúc cung phục vụ cho Hồ, gọi là phục vụ Đảng, phục vụ đất nước, cuối cùng cũng bị Hồ khai trừ vì dám viết “Thất trảm sớ” gởi cho Quốc hội CS…
Tích cũ như thế còn chuyện đời nay thì sao? Đã có con gà tồ nào ở hải ngoại “hồ hỡi phấn khởi” vỗ cánh bay về với cáo chưa?
Theo tin đài BBC ngày 09/11/09 loan tải thì: “Một số nhân sĩ và trí thức người Việt hàng đầu tại Mỹ và Úc, và Âu Châu đã không tham dự hội nghị. Lý do họ đưa ra là “không nhận được giấy mời” và cũng “không quan tâm”. Nguồn tin khác nói rằng đa số đại biểu là Việt kiều Đông Âu (thành phần du học hoặc xuất khẩu lao động trốn ở lại sau ngày bức tường Bá Linh sụp đổ). Và những Việt kiều đã sống ở Việt Nam trong nhiều năm (như loại NCK và PD).
Tổ chức Đại hội Việt kiều tại Hà Nội lần này đảng cầy cáo CS Việt Nam nhắm đến mục đích gì?.
Lần này, có lẽ tiền không phải là mục tiêu chính yếu. Sau 20 năm cái gọi là đổi mới theo “kinh tế thị trường” mở cửa đón bọn tư bản mũi lõ dốc hầu bao vào nước đầu tư, chào mời “khúc ruột ngàn dặm” đem đô la về thăm quê hương và “ăn khế ngọt”, mỗi năm bầy cáo đã thu vén nhiều tỉ bạc, chia chác cho nhau bỏ túi riêng, mà phải là bạc đô xanh của đế quốc Mỹ, in hình Washington chứ không thèm đô “đồng” in hình già râu đâu nhé. Giờ thì bọn chúng trở thành tư bản đỏ giàu sụ, giàu “khủng”, đi xe hơi, ở nhà lầu, đi đánh bạc ở Las Vegas, vác gậy chơi gôn… nên tiền đối với chúng “vô tư”, không thành vấn đề.
Cái mà chúng nhắm đến là lực lượng chống cộng ở hải ngoại ngày càng phát triễn vững mạnh thành một thế lực rất đáng gờm cho chúng. Nhân số người Việt hải ngoại hiện nay đã lên đến gần 4 triệu có đủ nhân lực, tài chánh, kinh tế và chất xám đủ sức để đánh gục chế độ độc tài của chúng. (Kịch bản Nghị quyết 36 ở trên đã nói rõ: vừa quản lý vừa móc hầu bao)
Chuyện thu hút nhân tài, trí thức, chất xám… chỉ là khẩu hiệu của sự dối trá, gạt gẫm, che mắt bề ngoài. Hãy nhìn vào trong nước là đủ biết. Mới đây thôi, cả một viện IDS mệnh danh là “túi khôn” xã hội Việt Nam, qui tụ toàn những trí thức hàng đầu của cả nước còn phải bị bức tử, phải tự giải thể, cuốn cờ, xếp trống vì cái Nghị định số 97 của con cáo giảo quyệt Nguyễn Tấn Dũng không dung chứa thì cái đám trí thức ở nước ngoài là cái thá gì? Toàn là CIA cài vào cả!!! Đảng ta đâu có khờ mà tin dùng! Vã lại Đảng Hồ cũng chẳng cần trí thức để làm gì. Đảng chỉ cần súng và bạo lực. Cái đảng cần là xã hội ổn định, bền vững. Đất nước lạc hậu, nghèo đói, ngu dốt bao nhiêu thì đảng càng dễ cai trị bấy nhiêu.
Âm mưu tổ chức Hội nghị Việt kiều lần này của chúng là dùng Hội nghị như một cái bẫy ly gián để phá nát cộng đồng hải ngoại. Sách lược “mãn thiên hoa vũ”, rãi nón cối, dép râu đầy trời làm ung thối hết các tổ chức chống cộng của người Việt hải ngoại.
Mưu thâm độc của chúng là bắt chước Chu Du mượn tay Tưởng Cán để giết Thái Mạo, Đô đốc hải quân của Tào Tháo trong trận Xích Bích nổi tiếng thời Tam Quốc phân tranh. Hoặc mưu Tào Tháo hay dùng là mời tướng địch ra trước đầu ngựa ở trận tiền để giả vờ nói cười thăm hỏi vớ vẩn mấy câu rồi quay ngựa về trại, gây sự nghi ngờ, ly gián cho phía đối nghịch. Kế hiểm này áp dụng lúc nào cũng thành công.
Chúng có thể để cho đám gà tồ hải ngoại về dự Hội nghị tha hồ nói nhăng nói cuội, có khi còn phát biểu móc họng, đâm hông, chúng cũng không “ke”, dù 4 đề tài nêu ra có vẻ rất trái cựa là “Xây dựng kiện toàn một cộng đồng người Việt tại hải ngoại”. Rõ ràng là lòi đuôi chồn của đảng cáo muốn thò cánh tay lông lá của mình ra nước ngoài kiểm soát người Việt tị nạn CS.
Kế hoạch chúng sẽ đi từng bước như sau:
- Gửi thư mời công khai đến tất cả những nhân vật chống cộng có uy tín ở hải ngoại.
Những người này dù không tham gia, không đi dự cũng bị cộng đồng nghi ngờ, xa lánh, cô lập.
- Trao tặng bằng khen, chụp hình chung lưu niệm, đăng tràn lan trên 700 tờ báo đảng để nhiều người cùng thấy, cùng biết càng tốt.
Thế là những “Dziệt kiều yêu nước” này khi trở lại hải ngoại sẽ bị thân bại danh liệt tức khắc. Cộng đồng sẽ xa lánh chúng như lánh hủi.
- Thời gian Hội nghị lưu trú tại Việt Nam, mấy con gà trống yêu “xã nghĩa” sẽ được cáo cha, cáo con mồi chài, lôi kéo, chiêu đãi nhiều màn “mỹ nhân chân dài” rồi bí mật chụp hình, quay phim để làm cái cán “ri mốt” điều khiển từ xa.
Đám gà tồ hám gái sụp bẫy này sẽ răm rắp nghe lệnh cáo suốt đời, cam tâm cúi mặt làm Việt gian tay sai cho chúng, nếu không thì sẽ lãnh thẹo từ chết đến bị thương. Cái mưu độc này gọi là cấy sinh tử phù.
- Tiếp theo sau Hội nghị là những chuyến công du tới tấp của những cáo cao cấp đến các nước “thăm” các “Đại biểu Dziệt kiều”, đáp lại thâm tình giao du. Sẽ có màn ôm cổ, bá vai, hôn môi, nút lưỡi để phổ biến trên Ti vi, trên báo giấy, báo mạng.
Những “Đại biểu” bị thăm và bị chụp hình bất đắc dĩ này sẽ ôm cái “oan Thị Mầu” với cộng đồng mà cả biển nước Nam Hải cũng rửa không sạch.
- Bước kế tiếp, bọn Việt gian của Nghị quyết 36, nằm vùng trong các tổ chức chống cộng sẽ rỉ tai bỏ nhỏ ông A, ông B, bà C, Cô D… lúc về Việt Nam đã có đi đêm với cán bộ này, lãnh đạo nọ…
Vân vân và vân vân…
Và kết quả tất nhiên sẽ phải xãy ra đối với các tổ chức cộng đồng hải ngoại giống như trường hợp bà mẹ Tăng Sâm hết tin con mình, phải bỏ trốn vì ba lần nghe hàng xóm liên tục báo tin con mình giết người.
Tóm lại một câu, về kế sách kinh bang tế thế làm cho nước dân giàu nước mạnh thì đám chồn cáo lãnh đạo Việt Nam dốt đặc cán mai, ngu hết cỡ thợ mộc, ngu lâu đến độ “bó tay chấm cơm”, làm cho đất nước suy thoái, lạc hậu, đói nghèo nhưng về mưu mô giảo quyệt, tráo trở, lừa gạt, hiểm ác, gian manh để đi ăn cướp, để tham nhũng… thì rất siêu, được xếp đứng đầu thế giới, người Việt Quốc gia phải chào thua. Hồi trước đã thua, bây giờ cũng tiếp tục thua. Thua dài dài.
Rồi đây, nơi đất tạm dung của gần 4 triệu người tị nạn CS sẽ nổi lên một trận cuồng phong, đầy gió tanh mưa máu, do phe ta đánh với phe mình chí chết chưa chắc đã chịu thôi để có thời gian bình tâm ngồi nhìn lại trắng đen, phải trái, để nhân ra ai là bạn, ai là thù.
Bọn chồn cáo ở hang Bắc Bộ sẽ xoa tay đắc chí, cười rằng Nghị quyết 36 đã thành công! đại thành công! thắng lợi! đại thắng lợi! Từ nay chúng cứ gối cao ngủ kỹ chẳng phải lo gì nữa.
Và nhân dân Việt Nam sẽ tiếp tục quằn quại rên siết dưới bàn tay bạo tàn của đảng Hồ cáo thêm vài ba chục năm nữa.
Nhưng nói như trên thì có vẻ bi quan thái quá. Chẳng lẽ, đa số trí thức hải ngoại, nhất là thế hệ trẻ, đều là một giuộc tệ như nhau cả sao?
Theo đài BBC, trong số 900 “Đại biểu Dziệt kiều” hết phân nửa là ở Đông Âu, thuộc phe xã nghĩa ta rồi. Khỏi phải bàn chi cho tốn giấy mực. Từ hang ổ Hồ ly ra đi, dĩ nhiên Dziệt kiều Đông Âu, một số ít thôi, không dám vơ đũa cả nắm, vì ở với Boác bao nhiêu năm đã hãi “nắm dzồi”, “ăn cây nào rào cây ấy” là đúng với tư tưởng và đạo đức Boác rồi! Ngôn gì nữa? Một nửa còn lại, chia đổ đồng cho 100 nước và lãnh thổ, mỗi nơi chỉ có 9 ngoe thì đủ sức làm nên trò trống gì mà đám chồn cáo hy vọng sẽ là những “hột giống đỏ” hòng quậy nát cộng đồng?
Chắc chắn sẽ có những con gà khôn ngoan nổi bật lên trên đám gà tồ ngu ngơ kia biết nhìn xa trông rộng, rõ được âm mưu xảo trá của lũ chồn hôi dùng trí khôn, kế hay chống trả, phản kích lại chúng như con gà “khôn ngoan lại láu việc đời” của Lã Phụng Tiên lừa lại con cáo:
Gà rằng: Mừng rỡ xiết bao!
Tin này biết lấy cách nào tỏ vui?
Lời anh nói thì tôi xem trọng.
Kìa xa xa thấy bóng chó săn,
Hai anh đang chạy lại gần
Ý chừng cũng một tin thân ái này!
Đợi tôi đó xuống ngay lập tức,
Để bốn ta cùng được hôn nhau…
Hồ ly nghe chửa dứt câu,
Vội vàng một mạch cắm đầu chạy nhanh.
…
Nói rồi cẳng bốn chân ba,
Nghĩ mưu không đắt, Hồ ta giận mình.
Gà thấy hắn thất kinh đắc ý:
Lừa thằng gian thích chí dường bao!
Biết người, biết ta, trăm trận trăm thắng. Tuy biết rõ âm mưu thâm độc của lũ Hồ ly đang dùng quỷ kế của Chu Du, Tào Tháo ly gián, chia rẽ khối người Việt chống cộng thành năm bảy mảnh, chúng dễ bề “kiện toàn cơ cấu tổ chức, biên chế và phương tiện hoạt động đáp ứng đòi hỏi của tình hình mới” để từ đó làm bàn đạp tiến lên đánh phá các tổ chức chống cộng, ta phải có sách lược rõ ràng, chắc chắn, quyết liệt để ngăn chận và tiêu diệt chúng.
Nghị quyết 36 được bọn Hồ cáo phát động rầm rộ từ năm 2004 đến nay với một ngân quĩ khổng lồ, một lượng cán bộ đông đảo xâm nhập hải ngoại bằng nhiều ngã, nhiều ngách với đủ phương tiện truyền thông, truyền hình, báo chí, văn nghệ, băng nhạc, Duyên dáng Việt Nam, dạy học tiếng Việt… tổ chức nơi nào cũng đều bị người Việt hải ngoại bẻ gãy hết nên kết quả chúng không thu lượm được bao nhiêu theo như ý đồ mong muốn.
Lượng kiều hối đầu tư của người Việt đổ vào Việt Nam chưa đầy 2 tỉ Mỹ Kim giống như con trâu rụng mỗi cái lông đuôi. Trí thức, chuyên viên, doanh gia về nước “ăn khế ngọt” xây dựng đất nước đến nay, chỉ đếm được trên đầu ngón tay, so với hơn nửa triệu nhân tài thuộc lứa tuổi trẻ Việt Nam đang phục vụ khắp toàn cầu.
Cái đau rát mặt, tháu cáy nhất của đảng Hồ ly là đã bắt tay bang giao với Mỹ, Úc, Pháp, Canada… cả mười năm rồi mà vẫn không thể nào treo được lá cờ máu lên bất kỳ nơi đâu. Chỉ thấy cờ vàng ngạo nghễ tung bay khắp nơi trên thế giới, bất cứ nơi nào có người Việt tị nạn Cộng sản, dù ngày nay lá cờ vàng không còn đất Mẹ để ôm ấp trong vòng tay nữa.
Trong những ngày sắp tới, sau cái “Đại hội Dziệt Kiều”, được bọn cáo tung hê trơ tráo là “Tiểu Diên Hồng” này, chúng ta hãy chờ xem đám chồn cáo ở hang ổ Bắc Bộ phủ và đám gà mồi “ Dziệt kiều yêu nước” vừa được choàng vòng hoa, khăn quàng đỏ, trao bằng khen sẽ múa may quay cuồng diễn trò khỉ, trò tiều gì trên sân khấu hải ngoại đây!
Dù chúng có nhe nanh, múa vuốt hung hăng con bọ xít đối với dân lành trong nước đến đâu đi nữa nhưng khi bè lũ kéo nhau ra hải ngoại để bị gậy kiếm ăn, tức khắc bị cộng đồng người Việt tị nạn sẵn sàng chờ đón, bẻ không còn cái răng để húp cháo.
Và dĩ nhiên cái màn chui cửa hậu để trốn của lãnh đạo đảng ta sẽ cứ tái diễn dài dài.
Chó cậy gần nhà, chồn cáo cũng chỉ giỏi cậy gần hang ổ để gieo tai, tác ác với kẻ hiền.
Đừng thấy tình hình cộng đồng hải ngoại hiện nay đang rối reng như giỏ cua, loay hoay kèn cựa lôi kéo nhau mà bỏ bụng hí hửng mừng thầm. Hãy thử thò tay vào giỏ cua xem sao!
Không tin hả? Cứ thử đi! Sẽ biết đá biết vàng ngay!
21/11/09
* Bài viết trước khi “Hội nghị Dziệt kiều” quần tam, tụ ngũ ở Hà Nội.
HỘI NGHỊ VIỆT KIỀU: NGƯỜI THẬT, CHUYỆN GIẢ
Tri1ch NguoiViet Boston
ĐẠI-DƯƠNG
Gần 1,000 người tham dự Hội nghị người Việt ở nước ngoài được tổ chức tại Hà Nội từ 21 đến 23/11/09 đã dệt ra quá nhiều câu chuyện không đúng sự thật nhắm vào 2 chủ đích xây dựng cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hướng về đất nước và vận động trí thức, doanh nhân góp phần vào sự nghiệp xây dựng đất nước.
Hơn 900 Việt Kiều tham dự được Cộng sản Việt Nam xướng danh là Đại biểu cho 4 triệu người Việt sinh sống bên ngoài biên cương quốc gia. Đa số đại biểu đến từ các nước Đông Âu, Nga, Trung Quốc, Thái Lan. Nào ai suy cử họ làm Đại biểu, ngoại trừ các Sứ quán Cộng sản đã kín đáo sàng lọc cẩn thận từng cá nhân. Vì thế, những điều đám Đại biểu cam kết hoặc hứa hoặc thể hiện không hề phản ánh lối tư duy, khát vọng phổ quát trong cộng đồng người Việt sinh sống ở hải ngoại.
Cộng đồng người Việt sinh sống ở hải ngoại bao gồm các thành phần tị nạn cộng sản, di dân, du học, cư trú bất-hợp-pháp, lao động hợp tác, thương gia, nhân viên sứ quán. Thành phần tị nạn cộng sản và hậu duệ chiếm đa số hầu như đã nhận quốc tịch sở tại đã bị Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghép vào tình trạng song tịch dựa theo nguyên tắc huyết thống.
Nhà nước Hà Nội cố tình gộp chung vào giỏ Việt Kiều để chứng minh vị trí chủ nhân ông cho tất cả các thành phần trong cộng đồng người Việt sinh sống ở hải ngoại là hoàn toàn không hợp lý. Nhà đang thúc giục người Việt hải ngoại gia nhập Việt tịch trước khi hết hạn vào 01/07/2014, đặc biệt nhắm vào thế hệ trẻ, vì sợ mất khối tài nguyên dồi dào.
Trong ngày khai mạc Hội nghị, Chủ tịch Nhà nước, Nguyễn Minh Triết ba hoa “Kiều bào là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam. Chúng ta là con một nhà, con Lạc cháu Hồng, cùng một bọc trứng sinh ra”. Rồi kêu gọi những Việt Kiều tham dự hãy đấu tranh chống lại các lời nói và hành động sai trái, xuyên tạc của “các thế lực thù địch”.
Thật ra, hàng năm chỉ có hơn 200 lượt trí thức về nước giảng dạy, hợp tác nghiên cứu, hội thảo khoa học trong số 300,000 người có trình độ đại học trở lên; và tổng số đầu tư của Việt Kiều chỉ có 2 tỉ USD đã chứng minh xu hướng chống đối, nghi ngờ chế độ cộng sản vẫn chiếm đa số tại hải ngoại.
Nghị quyết 36 ban hành năm 2004 nhằm cải thiện công tác thông tin, tuyên truyền trong cộng đồng người Việt Nam ở hải ngoại được Thứ trưởng Ngoại giao kiêm Chủ nhiệm Ủy ban NVNONN, Nguyễn Thanh Sơn thừa nhận không đạt kết quả mong muốn vì “bị các phần tử xấu xuyên tạc”.
Cộng sản Việt Nam kêu gọi đoàn kết, nhưng tiếp tục “Hỗ trợ việc ra báo viết, mở đài phát thanh, truyền hình ở ngoài nước. Hỗ trợ kinh phí vận chuyển và đơn giản hóa thủ tục đối với việc gửi sách báo, văn hóa phẩm ra ngoài phục vụ cộng đồng”. Cộng sản Việt Nam sử dụng thông tin bóp méo, một chiều, không minh bạch đã gây ra tình trạng xáo trộn đối với sinh hoạt trong cộng đồng người Việt hải ngoại, đồng thời, ngăn chặn các kênh thông tin từ hải ngoại đi vào thị trường trong nước.
GS Nguyễn Quốc Vọng, Việt kiều Úc, trả lời phỏng vấn hôm kết thúc Hội nghị “Kiều bào bên ngoài còn rất thiếu thông tin về đất nước trong khi Việt Nam chưa có minh bạch về thông tin”.
Cả Nguyễn Quốc Vọng lẫn Nguyễn Bá Thuần (Việt Kiều Đan Mạch) đều mong đợi cộng sản thu nhận những trí thức ở nước ngoài sắp hoặc đã về hưu để giảng dạy và nghiên cứu. Nguyễn Quốc Vọng lại đặt câu hỏi “Lương của tôi bên Úc là 120.000 USD/năm, về nước chỉ còn một nửa … nếu không được giao nhiệm vụ rõ ràng như một cố vấn, vậy quyền của tôi là gì? Tôi nói có ai nghe không?”.
Chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân Mỹ-Việt, David Dương than phiền về hành chính, phép tắc, thủ tục “Dự án của tôi hoạt động đã 2 năm, nhưng, vẫn chưa biết đã tìm đúng cửa hay chưa. Hồi đầu có ý định mở rộng đầu tư, nhưng thấy nhiều khó khăn quá, nên lại muốn quay về Mỹ … khó ngay từ đầu và khó đến tận giờ”.
Nhà nước cộng sản ban hành các văn bản hành chính nhằm khuyến dụ các nhà đầu tư trút vốn vào rồi mới tăng thuế, ràng buộc với vô số thủ tục rườm rà. Việt Kiều Gia Nã Đại, Nguyễn Hoài Bắc bồi thêm “16 con dấu để thực hiện xong một vấn đề thì không thể nói là “một cửa” … một văn bản cho phép đầu tư, ghi rõ thuế đất 0,16 xu/m2/1năm và trong 5 năm mới thay đổi thuế. Nhưng khi văn bản chưa ráo mực thì Sở Tài chính tăng giá thuê đất lên gấp 8-10 lần”.
Cộng sản Việt Nam dùng văn bản đầu tư cởi mở để khỏi bị doanh gia và Chính phủ ngoại quốc chỉ trích nên chẳng cần cưởng hành nghiêm chỉnh các đạo luật kinh tế tạo điều kiện cho địa phương áp dụng luật rừng.
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tìm mọi cơ hội khống chế cộng đồng người Việt ở nước ngoài làm thị trường tiêu thụ sản phẩm, đầu cầu thâm nhập thị trường ngoại quốc, con gà đẻ trứng vàng, kho tri thức và bộ phận tình báo kỹ thuật chứ không nhằm mục đích xây dựng khối đoàn kết toàn dân.
Biển Đông sẽ nổi sóng?
Trích NguoiViet Online
Việc các chiến hạm Hoa Kỳ như USS Lassen ghé Việt Nam thường xuyên hơn, cho thấy tầm quan trọng của khu vực biển Ðông. (Hình: Hoàng Ðình Nam/Getty Images)
Chưa thấy, nhưng ít nhất sẽ căng thẳng hơn
HÀ NỘI (NV) – Biển Ðông sẽ nổi sóng? Chưa nhìn thấy, nhưng ít nhất sẽ căng thẳng hơn và còn kéo dài từ đời này sang đời khác.
Ðấy là cái nhìn chung của học giả, chuyên viên phân tích chính trị và thời sự đến từ nhiều nước trên thế giới, trong cuộc hội thảo về tranh chấp chủ quyền trên biển Ðông.
Cuộc hội thảo khai mạc ở Hà Nội ngày 26 Tháng Mười Một, 2009, trùng với ngày Trung Quốc đưa 2 tàu tuần lớn đến quần đảo Hoàng Sa để thị uy.
Theo giới quan sát thời sự phát biểu trong hội nghị ở Hà Nội, các tranh chấp trên biển Ðông, đặc biệt liên quan đến hai quần đảo và vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa, sẽ còn kéo dài nhiều thập niên nữa. Sự căng thẳng càng gia tăng thêm khi nhu cầu năng lượng mỗi ngày một cấp thiết hơn và đáy biển Trường Sa và cả Hoàng Sa được ước lượng chứa trữ lượng dầu khí lớn lao.
Cuộc hội thảo đề cập tới các khía cạnh của một đề tài chính trị nhạy cảm không những cho Việt Nam mà cả các nước trong khu vực có liên quan.
Một trong những bằng chứng rõ rệt của những tranh chấp chủ quyền này là việc bắt giữ ngư dân đánh cá bị coi là xâm phạm lãnh hải. Ngư dân Việt Nam, ngoài một số bị Trung Quốc bắt giữ, còn bị đâm chìm tàu hoặc bắt chết những năm gần đây.
Trung Quốc đã ký vào bản thỏa hiệp ứng xử trên biển Ðông với các nước Ðông Nam Á từ năm 2002 nhưng những gì xảy ra cho hiểu bản thỏa hiệp đã không được tôn trọng.
“Tôi cho rằng chúng ta phải chấp nhận một thực tế là có thể một số cuộc tranh chấp không thể giải quyết được trong một đời người hiện nay.” Nazery Khalid, một thành viên của Viện Nghiên Cứu Hàng Hải Mã Lai nhận xét.
Ông Khalid đề nghị các quốc gia trong khu vực tập trung vào những mặt có thể thỏa thuận được với nhau thay vì chú ý đến các điểm tranh chấp. Nhưng phần lớn các tham dự viên trong cuộc hội thảo nhìn thấy có rất ít lãnh vực có thể thỏa thuận ngoài những chuyện như hợp tác về khí tượng và cứu người gặp nạn trên biển.
Trung Quốc vẽ ra hình “lưỡi bò” đòi chủ quyền đến gần 80% biển Ðông, trùm lấp gần hết phần biển của Việt Nam, Phi Luật Tân, Mã Lai, Nam Dương và Brunei. Các quốc gia này cũng lại có những khu vực thềm lục địa trùng lặp với nhau.
Dương Văn Quang, giám đốc Học Viện Ngoại Giao của Việt Nam nói mở đầu cuộc hội thảo rằng sự căng thẳng gia tăng vì một phần “có những mưu toan xác lập chủ quyền pháp lý đối với các khu vực lãnh thổ song song với các hành động đơn phương nhằm củng cố sự kiểm soát lãnh thổ.”
Ông Quang ám chỉ những chuyện mới đây Trung Quốc loan báo thành lập các đơn vị hành chính ở đảo Phú Lâm (đảo lớn nhất trong quần đảo Hoàng Sa) chiếm của Việt Nam năm 1974 (mà Trung Quốc đặt tên lại là đảo Vĩnh Hưng).
Nhưng trong khi Việt Nam đã nhiều lần trưng các bằng cớ lịch sử chứng minh các quần đảo này là của Việt Nam suốt từ nhiều thế kỷ qua, giáo sư Luật Quốc Tế của Học Viện Khoa Học Xã Hội của Trung Quốc có mặt ở hội thảo, Liu Nan Lai, lại không chấp nhận quan điểm đó. Ông này nói rằng trước thập niên 1950 và thập niên 1960 “không có nước nào ngoài Trung Quốc đã nhìn nhận chủ quyền quần đảo Hoàng Sa” và nói rằng “người ta đã hiểu lầm là Trung Quốc cướp các đảo của một số nước khác.”
Gần đây, nhà cầm quyền Việt Nam đề nghị các nước hội viên ASEAN bắt đầu thương thuyết như một khối đối với sự đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc.
Mark Valencia, thành viên của Viện Nghiên Cứu Nautilus Institute ở Hoa Kỳ cho rằng sự hợp tác ấy khó lòng xảy ra, một phần vì Trung Quốc sẽ tìm cách phá.
“Trung Quốc chỉ cần bóc một nước ra là cái liên minh một khối đó không thành hình.” Valencia nói. “Cho nên, chuyện tranh chấp này sẽ còn kéo dài mãi mãi, theo ý kiến của tôi.”
Hoa Kỳ liên quan đến các cuộc tranh chấp này từ bên ngoài vì có tàu hoạt động thường xuyên trong khu vực mà họ tin là thuộc khu vực hải hành quốc tế trong khi Trung Quốc thì nói là của riêng họ.
Giáo Sư Carl Thayer, chuyên viên về các vấn đề Việt Nam của Học Viện Quốc Phòng Hoàng Gia Úc nói hai lần ngăn trở của tàu Trung Quốc đối với tàu nghiên cứu của Hải Quân Hoa Kỳ xảy ra hồi mùa Xuân vừa qua chứng tỏ Trung Quốc gia tăng sự khẳng định chủ quyền lãnh thổ ở khu vực.
Ông Thayer nói điều này có thể dẫn đến từ ý muốn kiểm soát nguồn tài nguyên dầu khí nằm dưới lòng biển hoặc Trung Quốc muốn cho thấy phản ứng của họ trước sự gia tăng quan hệ quân sự giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. (TN)
Hội thảo Quốc tế “Biển Đông Hợp tác vì An ninh và Phát triển trong khu vực”
Mặc Lâm, phóng viên đài RFA
2009-11-28
Hội thảo quốc tế “Biển Đông Hợp tác vì An ninh và Phát triển trong khu vực” được tổ chức trong hai ngày 26 và 27/11/2009, tại Hà Nội đã kết thúc vào ngày hôm qua.
Đây là Hội thảo quốc tế đầu tiên về Biển Đông diễn ra tại Việt Nam, do Học viện Ngoại giao và Hội Luật gia Việt Nam phối hợp tổ chức. Hội thảo khoa học này có sự tham gia của chừng 150 đại biểu của hơn 20 nước và vùng lãnh thổ.
Nhiều đại biểu Việt Nam đã cùng tham dự. Mặc Lâm có cuộc trao đổi với hai tham dự viên là TS sử học Nguyễn Nhã và nhà ngoại giao kỳ cựu Dương Danh Dy để tìm hiểu thêm nội dung của buổi hội thảo đặc biệt này.
Từ nhiều năm nay, Việt Nam đã tổ chức vài cuộc hội thảo trong nước quy tụ các chuyên gia nhiều ngành để thảo luận vấn đề Biển Đông nhằm tìm phương hướng giải quyết những khúc mắc mà các nước láng giềng luôn đưa ra để đòi hỏi quyền lợi về tài nguyên biển, các tranh chấp chủ quyền quốc gia trong khu vực cũng như các vấn đề được xem là nhạy cảm khác.
Tầm vóc quốc tế
Buổi hội thảo quốc tế này tuy mới tổ chức lần đầu tiên nhưng nhiều người cho rằng đã phần nào đi đúng hướng nhằm tiến tới mục tiêu hòa giải, phát triển, và chia sẻ mọi chủ đề đối với các nước có tranh chấp trong vùng biển rộng lớn này. Các nước bên ngoài khu vực biển Đông như Mỹ, Nga, Anh, Pháp, Đức, Nhật, Úc hay Ấn Độ cũng gửi chuyên gia đến tham dự cho thấy tầm quan trọng chiến lược của vùng biển này đối với sự thông thương hàng hải và ổn định chính trị có ý nghĩa quan trọng như thế nào. Tiến sĩ sử học Nguyễn Nhã, một tham dự viên trong cuộc hội thảo nhận xét:
“Thứ nhất là tôi cũng thấy lý thú vì lần đầu tiên mình có một cuộc hội thảo tầm mức quốc tế và nhiều học giả các nước lớn như là Mỹ, Nga, Anh, Pháp, Đức, Ấn, Nhật,… tham gia và các nước khu vực trong đó có Trung Quốc, rất là đông đến 6 người tham dự. Người ta đặt vấn đề là trao đổi học thuật ngay từ bước đầu và tôi thấy có học giả phát biểu rằng chính trị nếu không dựa vào khoa học thì rất nguy hiểm và do đó cần có sự giúp đỡ của các nhà khoa học thì quyết định mới có thể đúng đắn.”
Vấn đề chủ quyền
Ông Dương Danh Dy, một nhà ngoại giao kỳ cựu nhận xét cuộc hội thảo đã phần nào thành công khi các đại biểu đến từ nhiều nước đưa ra các bài tham luận rất chuyên môn về chủ đề hợp tác và an ninh cho khu vực Biển Đông, tuy nhiên vấn đề chủ quyền thì ông cho rằng các nước đều tỏ ra dè dặt, ông nói:
“
Khi đặt vấn đề chủ quyền thì các học giả Trung Quốc cũng đưa ra các luận điệu không chính xác ví dụ như vẫn nói là Hoàng Sa tức là Tây Sa và Nam Sa là của Trung Quốc từ đời nhà Tống.
TS Nguyễn Nhã
“ Các đại biểu đến dự có những nước liên quan trực tiếp đến Biển Đông nhưng cũng có nước không liên quan gì đến biển Đông như Mỹ, Nga, Anh hay Ấn Độ,… và không phải nước nào tham dự cũng đều phát biểu về chủ quyền cả. Theo tôi thì tôi thấy chủ đề của cuộc hội thảo hôm nay chủ yếu bàn về vấn đề hợp tác và an ninh biển Đông. Còn vấn đề chủ quyền nói thẳng đấy là vần đề gay cấn nhất nhưng có lẽ vì gay cấn nên là cuộc hội thảo đầu tiên thì không thể giải quyết được. Các nước tham dự có thái độ tôi có thể gọi là tránh né.”
Đối với TS Nguyễn Nhã thì không phải hội nghị hoàn toàn bỏ qua vấn đề hết sức khó giải quyết này. Phía Việt Nam, vài tham dự viên kể cả bản thân ông cũng đã thẳng thắn đặt vấn đề chủ quyền trong cuộc hội thảo và thái độ của các nước có khác nhau, trong khi Philippines, Malaysia, Đài Loan không có ý kiến cụ thể gì thì Trung Quốc lại có thái độ như từ trước tới nay, Tiến Sĩ Nhã cho biết:
“Có những học giả đề nghị là ASEAN nên có những hợp tác chuyên ngành, và nếu có như thế thì các nhà khoa học sẽ giúp cho việc hợp tác biển Đông. Có một số tham luận viên của Việt Nam và ngay cả tôi nữa thì cũng đặt vấn đề chủ quyền. Khi đặt vấn đề chủ quyền thì các học giả Trung Quốc cũng đưa ra các luận điệu không chính xác ví dụ như vẫn nói là Hoàng Sa tức là Tây Sa và Nam Sa là của Trung Quốc từ đời nhà Tống.”
Đối với nhà ngoại giao Dương Danh Dy thì ông cho rằng cuộc hội thảo dù sao thì cũng đã tìm được tiếng nói chung và cần có thời gian để tìm đến với những đồng thuận chứ không thể ngày một ngày hai đạt được kết quả, nhất là chủ quyền, một câu hỏi không dễ dàng trả lời để mọi phía đều hài lòng, ông nói:
“
Các nước tham dự có thái độ tôi có thể gọi là tránh né.
Ông Dương Danh Dy
“Tôi thấy cuộc hội thảo này đã tìm được tiếng nói chung chủ yếu là giữ gìn an ninh và hợp tác. Một số đại biểu đề cập khá toàn diện từ chỗ khai thác tài nguyên, đánh bắt hải sản, nuôi trồng thủy sản đến môi trường kể cả chống cướp biển… Chủ yếu làm thế nào để biển Đông nó đừng nổi sóng. Bước đầu tôi thấy nên như vậy và tôi thấy cần có thêm nhiều cuộc hội thảo nữa, cuối cùng dần dần mới mở ra mối được chứ còn bây giờ cái chuyện biển Đông tranh cãi nó xưa như trái đất rồi làm sao mà trong một cuộc hội thảo có thể giải quyết được?”
Thái độ Trung Quốc
Trong khi bàn hội thảo còn chưa khép lại thì Bộ Ngoại Giao Việt Nam ngày hôm qua phải cử người đích thân đến đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội để phản đối việc hai tàu Ngư Chính 311 và 303 đang có mặt tại quần đảo Hoàng Sa với lý do hộ tống các tàu đánh cá Trung Quốc. Khu vực Hoàng Sa vẫn còn là nơi đang tranh chấp sau khi Trung Quốc đánh chiếm của Việt Nam từ năm 1974.
Dư luận lại một lần nữa tỏ ra lo ngại trước thái độ biểu dương sức mạnh nước lớn của phương Bắc, bất kể nổ lực kiến tạo đàm phán hay ít ra là chia sẻ ý kiến trước các hoạt động có liên quan đến chủ quyền quốc gia. Trung Quốc luôn là nước chủ động tái diễn nhiều lần việc cấm đoán, bắt bớ tranh giành khu đặc quyền kinh tế biển với tất cả các nước trong khu vực chứ không riêng gì Việt Nam. Các hành động này cho thấy cuộc hội thảo quốc tế lần này khó đạt được bất cứ một thành tựu nào. May ra các nước tham dự có thể thấy rõ hơn một chút viễn cảnh xâm lược của Trung Quốc đối với khu vực Biển Đông để các nước này có cơ hội nhìn lại chính sách của mình trước một thế lực đáng kể của thế giới, tuy mới nổi lên nhưng không phải là không nguy hiểm.
Chuyện tiếu lâm XHCN: cười hổng nổi!
Trích NguoiViet Boston
Nguyễn Thanh Ty
Nước An Nam ta từ xưa đến giờ chưa có khi nào chuyện tiếu lâm trong dân gian lại được mùa nở rộ, nở toè loe toét loét, nở đại trà như nấm dại sau những cơn mưa dông tháng năm, tháng sáu Âm lịch, ở vào thời kỳ sau năm 1975, lúc đám cán ngố, cả đực lẫn cái, từ rừng sâu, núi cao kéo về thành, ăn mặc lôi thôi nhếch nhác, quần nhăn nhúm, ống xắn lên quá gối, cổ vắt khăn lau mặt cáu bẩn, áo màu cứt ngựa rộng thùng thình bỏ ra ngoài, ngồi chồm hổm co chân trên ghế, đầy hè phố, miệng nhồm nhoàm vừa hả hê gặm xoài chín, vừa “nổ” chuyện trời ơi đất hỡi, khoác lác về những “ưu việt tưởng tượng” của miền Bắc, cái gọi là thiên đường Xã hội Chủ nghĩa.
Nếu có ai chịu khó góp nhặt, gom hết lại những chuyện cười “tức như bò đá” do các cán ngố này gây ra hàng ngày để in thành sách, chắc phải dùng tới hàng trăm xe trâu hay xe bò mới chở hết.
Và nếu so với chuyện tiếu lâm cũ xì, cũ xịt như truyện Ba Giai Tú Xuất, Trạng Quỳnh, Lý Toét Xã Xệ hoặc gần gần đây chừng nửa thế kỷ trở lại, chuyện do ông Đặng Trần Huân sưu tầm v.v… thì “chất lượng” chuyện của đám cán ngố này vừa ngớ ngẫn vừa ngốc nghếch, buồn cười hơn bội phần.
Bây giờ đang là giai đoạn “đổi mới” (nghĩa là đang trở lại y như cũ, thời “phồn vinh giả tạo” của Việt Nam Cộng Hòa – Mỹ Thiệu) nên những chuyện “cái nồi ngồi trên cái cốc”, “kem ba màu ăn không hết phải phơi khô để dành”, “ti vi ngoài Bắc chạy đầy đường”, “ngoài Bắc trái cà chớn to như cái thau”, “máy chém của Mỹ Diệm ở miền Nam nhà nào cũng có” … hồi mới “phỏng giái” đã “quá đát” không còn gây cười được nữa.
Mười năm sau cái ngày toàn dân cả nước bị “phỏng giái” tức năm 1986, đảng và Nhà nước ta đành phải vẫy tay giã từ “cơ chế kinh tế bao cấp” để “hồ hỡi phấn khởi” chạy theo vết xe “bóc lột” của bọn đế quốc tư bản làm “kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa” thì cán bộ ta, từ ông chủ tịch nước đến ông chủ tịch ấp, thảy thảy đều quăng bỏ dép râu, nón cối, xắc cốt, áo bốn túi kiểu Mao, xe đạp Phượng Hoàng, xe hơi “Môtôlốpcốp” vào thùng rác và thay vào đó áo sơ mi cổ cứng ủi ngay nếp, còm lê vét tông, thắt mực khô tòng teng trước cổ, (để dành lau nước mũi) giày da Tây bóng lộn, cặp “xăm xô nai” le lói, xe hơi Mẹc xê đì” của Mỹ “hoành tráng”. Nhưng dù có thay đổi gì đi nữa cán bộ ta vẫn không cách nào giấu được cái đuôi, (thằng người có đuôi) y như con khỉ Tề Thiên Đại Thánh dù có 72 phép thần thông biến hoá ra đủ thứ hình dạng vẫn không dấu được cái đuôi khỉ phía sau đít với pháp nhãn của Phật Bà Quan Âm.
Thời đại mới, cái ngớ ngẫn, ngờ nghệch lúc ở trên núi xuống như nuôi cá trong bồn cầu, xây chuồng heo trên lầu thượng… không còn nữa nhưng chuyện tiếu lâm của Xã hội Chủ nghĩa “đổi đời” cũng “ấp đét” theo, có “chất lượng cao”, có “quan hệ hữu cơ” ở mức độ mạnh do sự lòi ra cái đuôi ngu dốt nhưng cứ vênh mặt ta đây là “đỉnh cao trí tuệ” càng gây cho dân cười thỏa thích cũng nhiều mà bực mình chửi cũng lắm.
Những Tiến sĩ, Phó Giáo sư lý luận gia của Viện Mác Lê và Tư tưởng Hồ Chí Minh ở Hà Nội giải thích rằng đó là hiện tượng tất yếu của thời kỳ quá độ của Xã hội Chủ Nghĩa, để đi lên Chủ nghĩa tư bản. Cho nên từ trình độ nhận thức ấu trĩ của xã hội cộng sản miền Bắc ở thời đại bán khai còn săn bắn hái lượm chuyển sang xã hội tư bản, một xã hội công nghiệp hóa hiện đại, văn minh của miền Nam thì những “sự cố” xãy ra “hàng ngày ở huyện” được liệt vào kho tàng “tiếu lâm thời đại” ắt-có-và-đủ-điều-kiện-để-phải-xãy-ra là chuyện đương nhiên. Một hiện tượng rất khoa học và rất “logic”.
Và nó cũng đeo theo nòng súng A.K, dao găm, mã tấu xồng xộc dẫm những bước chân dép râu thô bạo đi vào lịch sử văn học nước nhà bằng cái tên nghe rất rổn rảng gọi là “ nền văn hóa mới Xã hội Chủ nghĩa”.
Còn chất tiếu lâm cười đến mức độ nào như trắng, xám, đen để cười mĩm, cười mĩa, cười chua, cười mũi, cười hì, cười hà… thì còn phải xem xem chuyện do cán bộ cấp nào như huyện, tỉnh hay trung ương gây ra, tạo nên. Dĩ nhiên cấp cán bộ càng cao thì chuyện tiếu lâm do họ sáng tác và trình diễn phải có chất hài hơn, giễu hay hơn và cười … nôn ruột hơn.
Bởi các quan trong Bộ Chính trị của đảng CSVN chịu qui luật “cha truyền con nối” bất khả đổi là “ấu bất học bất tri lý – nhỏ không học lớn làm chính ủy”, chức vụ tỷ lệ nghịch với sự hiểu biết. Ghế càng cao chất xám trong não càng ít. Đít ngồi lâu phình to ra phía dưới thì óc ở phía trên càng bé lại.
Vì thế các lãnh đạo chóp bu của Bắc Bộ phủ chuyên đi tấu hài ở khắp nơi trên thế giới để kiếm “đô” thì nhất định là phải “thọc cù léc” cho khán giả cười bằng thích, cười bể bụng luôn.
Sau đây là một số “sự kiện” còn nóng hôi hổi đã được (bị) các lãnh đạo ta biến thành “sự cố” tiếu lâm, người viết xin ghi lại vài chuyện điển hình để hải nội chư quân đọc chơi giải trí nhưng cấm có cười, vì những chuyện này đều thuộc loại “bí mật quốc gia”, khi cười hở mười cái răng tức là lộ bí mật rất nguy hại đến “an ninh quốc phòng”.
Nhưng cũng có chuyện muốn cười một chút để an ủi cũng cười hổng nổi.
Chuyện tiếu lâm Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam nói riêng và khối cộng sản nói chung, thời lên voi nhuộm đỏ nửa địa cầu, cũng như thời xuống chó chỉ còn có 4 ngoe Trung Quốc, Bắc Hàn, Cuba, Việt Nam đang ngáp ngáp chờ chết, nhiều muôn trùng, bằng con số bậc cấp của con đường vô tận đi lên thiên đường cộng sản.
Nhân đây cũng xin lướt qua một chút chuyện tiếu lâm “Con đường lên thiên đàng cộng sản” trước khi vào “dòng chính” của các lãnh đạo ta.
Năm 1968, Tết Mậu Thân, sau khi Boác Hù thất bại trong tham vọng đánh chiếm miền Nam, uất ức quá nên không chịu sống nữa bèn “chuyển sang từ trần”. Hồn vừa lìa khỏi xác, Boác hối hả chạy đi kiếm các bác Lê, Các, Xít, Mao để bái kiến tương ngộ. Trước đó, Boác nghe nói bọn họ đã tìm ra “thiên đàng cộng sản” và đang hưởng phước ở trển.
Bốn mươi năm sau, thời điểm 2009, Boác Hù đang thở phì phò, hì hà hì hục bò lên các bậc cấp dẫn lên thiên đàng, đầu óc còn đang hoang mang và thắc mắc không hiểu ai đã dùng phấn vạch lên các bậc cấp, mỗi bậc một vạch để làm chi thì thấy Bác Mao hấp tấp đi xuống.
Boác Hù mừng quá, vội đứng thẳng người lên, tay trái xuội xuống đùi, tay phải nắm lại, giơ cao ngang trán chào kính và hỏi:
- Chào đồng chí Mao Xếnh Xáng vĩ đại! Đồng chí đã lên tới thiên đàng cộng sản chưa??
- Chưa! Đường còn xa lắm! Ngộ đang dùng phấn đánh dấu bậc cấp để đếm xem phải đi bao nhiêu bậc mới tới thiên đàng.
- Thế đồng chí đi ngược xuống làm chi?
- Ngộ vừa đi vừa đánh dấu đã hơn 60 năm rồi, đã dùng hết mấy ngàn thùng phấn mà vẫn chưa thấy cổng thiên đàng, lại hết phấn. Ngộ phải xuống để lấy thêm phấn đây!
Boác Hù nghe xong, quá thất vọng, thở hắc ra cái phì, té phịch xuống đất, chết thẳng cẳng thêm lần nữa.
Chuyện Ông Chủ tịch Huyện Hoàng Sa
Tháng 12 năm 2007, bọn bành trướng Bắc Kinh ngang nhiên sáp nhập hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vào đảo Tam Sa của chúng, biến thành huyện Tam Sa, lập cơ quan hành chính, đem quân lính và dân thường lên đóng chốt, lập đồn, xây dựng nhà cửa tạo cuộc sống lâu dài, xem hai đảo đó đương nhiên là của chúng từ khuya.
Để phản đối bọn Tàu bá quyền cướp nước, thanh niên, sinh viên học sinh, nhà văn… Việt Nam, mấy trăm người xuống đường, kéo nhau đến trước Tòa Đại sứ và Tổng lãnh sự quán của Bắc kinh tại Hà Nội và Sài Gòn để biểu tình đòi lại hải đảo. Đoàn biểu tình hai nơi đều “được” công an Nhà nước ta đánh cho te tua, tơi tả, nhiều người còn bị bỏ tù vì cái tội như Nhà nước cho biết: Nào là: Biểu tình mà không làm đơn xin phép trước – Cầm đèn chạy trước ô tô, vượt mặt đảng và Nhà nước, gây khó khăn trong vấn đề ngoại giao “nhạy cảm”, làm xấu đi tình hữu nghị 16 chữ vàng giữa hai nước Việt Trung v.v… Chuyện tưởng chừng chìm trong sự nhục nhã…
Bẵng đi hơn nửa năm, đầu tháng 5/2008, thành phố Đà Nẵng bỗng tổ chức linh đình lễ trao quyết định bổ nhiệm lần đầu tiên chức danh chủ tịch ủy ban nhân dân quận, huyện trực thuộc thành phố. Người dân Đà Nẵng bật ngữa ra rất bất ngờ khi thấy ngoài số 6 ông quận, ông huyện thuộc thành phố Đà Nẵng còn có thêm một ông huyện mới là ông huyện Hoàng Sa, cai quản cái đảo Hoàng Sa mà chỉ có toàn dân Tàu cư ngụ.
Người dân Đà Nẵng ôm bụng cười ngất khi đọc cái quyết định có đoạn nói rằng nhiệm vụ chính yếu của ông Huyện Hoàng Sa trong giai đoạn hiện nay là “thu thập chứng cứ, tài liệu lịch sử về chủ quyền của ta về Hoàng Sa”.
Một cư dân thành phố Đà Nẵng, ông Nguyễn Vọng, kể chuyện tiếu lâm này như sau:
“Cái ông Huyện này mới nhậm chức được có mấy bữa, chưa có tai tiếng gì so với mấy ông bạn đồng liêu kia, nhưng so với mấy ông huyện kia thì ông huyện này có vài đặc điểm có thể gọi là đặc thù mà những ông huyện kia không có được. Ông cũng có trụ sở, thậm chí còn có cả ô tô con, nhưng cái phần lãnh thổ mà ông được phân công cai quản thì chắc chắn ông chưa từng được trông thấy một lần trong đời, thậm chí cả chuyện trông thấy trên truyền hình. Có người bảo ông xui hay bị đì nên mới được (bị) trên cho đi làm cái chức trời ơi đất hỡi như vậy, không có lấy một tên dân đen nào để cai quản thì biết lấy ai ra mà hoạnh hoẹ mà hạch xách đây hở trời! Lại còn chưa biết cái huyện của mình nó rộng, dài, tròn, méo ra sao thì làm sao mà “dự án” với “quy hoạch”, thôi phen này thua là cái chắc. Có người lại bảo là ông sướng, chẳng làm gì cả mà tháng nào cũng lãnh lương đủ, nhưng nói như mấy người trên kia là chưa hiểu đầy đủ về ông rồi, không có tiền trước mắt thật đấy nhưng rồi các anh ở trên cũng sẽ chiếu cố vào nhiệm kỳ sau thôi, chỉ sợ không có sức mà ăn. Điều làm ông huyện Hoàng Sa bận tâm là chuyện này cơ. Số là trong cái quyết định có đoạn nói rằng cái nhiệm vụ chính yếu của ông huyện Hoàng Sa trong giai đoạn hiện nay là “thu thập chứng cứ, tài liệu lịch sử về chủ quyền của ta về Hoàng Sa”. Cái này mới gay đây vì người ta quá biết những cái liên quan đến tài liệu, lịch sử, chữ nghĩa đều không phải là sở trường của các anh Huyện thời nay” (Ngưng trích)
Ông Nguyễn Vọng Đà Nẵng kể chuyện tiếu lâm mà cứ như Thánh nói, không sai trật đi đâu được. Kể từ lúc ông huyên này ngồi lên ghế chủ tịch huyện Hoàng Sa thì ngư dân của tỉnh Quảng Đà ra khơi hành nghề bị bọn tàu ô Trung Quốc đánh, giết, cướp tàu, đâm tàu bể nát, bắt giam người đòi tiền chuộc… con số lên đến cả trăm vụ, nhân mạng thiệt hại không biết bao nhiêu mà kể. Thế mà không thấy mặt mũi ông huyện đâu, kể cả tiếng nói của ông cũng chẳng nghe được lời nào. Không biết ông lặn đi đâu mất tiêu.
Không những ông Huyện Hoàng Sa trốn mà luôn ông Chủ tịch thành phố Đà Nẵng, ông Tổng bí thư Mạnh, ông Chủ tịch nước Triết, ông thủ tướng Dũng cũng trốn biệt dạng. Không thấy một ai trong cái đảng cộng sản Việt Nam, cái Nhà nước đương quyền nói lên một lời bênh vực chứ đừng nói là có “động thái” bảo vệ cho dân.
Chỉ tội cho ngư dân nghèo khổ Lý Sơn thân cô, thế yếu đành giơ đầu chịu báng, giơ lưng chịu đòn hành hạ tàn nhẫn, hiếp đáp dã man của bọn Tàu ô cướp biển một cách đau đớn nhục nhã mà thôi.
Nhưng mới đây, người dân trong nước giật mình ngơ ngác không hiểu đảng ta và Nhà nước ta đang bí mật thi hành một âm mưu gì mà không chịu đưa vấn đề ra trước Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc nhân cơ hội Việt Nam được giữ chức Chủ tịch luân phiên mà lại có ý định đưa vũ khí cho ngư dân để họ tự vệ và đánh nhau với lực lượng hùng hậu của hải quân Tàu.
Ngư dân Quảng Đà mới nghe nói vội vừa xua tay, lắc đầu ngoày ngoạy, vừa mếu máo:
- Đảng và Nhà nước các ông có quân đội, công an rần rần, rộ rộ súng ống, dùi cui trong tay mà không dám ra mặt đánh nhau với bọn Tàu thì thôi, chớ sao lại đẩy chúng tôi vào chổ chết như thế. Chúng tôi tay không thì còn có cơ may chúng nó tha chết cho, chứ có cái súng trong ghe lại là cái cớ chúng giết cho lẹ. Các ông khéo nói giễu thì thôi.
Chuyện ông Đào Duy Quát
Quát vô tài bất tướng, ngày ngày theo bọn du thủ, du thực ăn chơi đàng điếm nhưng lại có bố là Đào Duy Tùng, Ủy viên Trung ương đảng đỡ đầu nên lọt vào cơ quan đầu nậu của đảng và cứ thế tà tà leo cao, chui sâu tót lên đến chức vụ Viện phó Viện nghiên cứu Mác Lê và Tư tưởng Hồ chí Minh. Vì thành tích đồi trụy, sa đọa trong lối ăn chơi nên bị mất chức. Tưởng đâu là phải về vườn “học cày, chăn trâu” trở lại như thuở khố rách áo ôm, ngờ đâu bố Tùng lại đỡ thằng con quí tử lên chức khác ngon ăn hơn: Trưởng ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương kiêm luôn chức Tổng biên tập báo điện tử của đảng. Quát ngồi ở vị trí này suốt 12 năm mà không biết một chút gì về cái gọi là Văn hóa hay Tư tưởng sất. Ngay cả việc điều hành tờ báo điện tử cũng ù ù cạc cạc như vịt nghe sấm, chẳng hề biết trên báo đăng cái gì, suốt ngày chỉ la cà ở mấy chổ ăn chơi trụy lạc, dâm ô. Ông Vũ minh Ngọc, một cán bộ, đảng viên lão thành ở Hà Nội nhận xét: “Nếu để cho tên Quát này ngồi ở ghế Tư tưởng Văn hóa thì chẳng mấy chốc cái đất nước này trở thành nhà thổ”.
Mới đây, trên báo điện tử do Quát làm Tổng biên tập cho đăng một bài báo tường thuật hải quân Trung Quốc tập trận trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, được dịch nguyên con từ báo Tàu, xem như gián tiếp khẳng định hai đảo này là thuộc quyền của Tàu. Quát bị dư luận trong nước lên tiếng chống đối dữ dội, kết án là phản bội, phản quốc, tay sai của Tàu. Nhưng với cái thói ngu dốt của cường quyền, Quát vẫn cứ phớt lờ dư luận và trả lời xấc xược với báo chí rằng: “Chỉ là lỗi kỹ thuật thôi! Chả có gì! Nhá!”.
Cuối cùng, bị búa rìu dư luận càng lúc càng dữ dội, đảng ta đành phải đem Quát ra, giơ cao đánh khẻ, phạt vạ 30 triệu đồng tiền Hồ để gọi là xử lý việc làm sai trái. Đối với bản án đầu voi đuội chuột này, Quát nhe răng ra cười hì hì vì vẫn được tiếp tục giữ y chức cũ. Vã lại, tiền phạt do đảng trả tức là tiền đóng thuế của dân chứ chẳng phải tiền ông, tiền cha gì của Quát đưa ra mà xót. Và số tiền phạt 30 triệu chưa bằng Quát đi chơi gái một bữa, nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ.
Mấy hôm sau, Quát lại áo mão cân đai, thay mặt đảng và Nhà nước long trọng trong vai tuồng Trưởng ban Tổ chức lên sân khấu phát giải thưởng cho cuộc thi viết về Biển-Đảo.
Câu chuyện tiếu lâm trên làm cho người dân cười gần chết. Nhưng họ cười vì cái chế độ Xã hội Chủ nghĩa phường tuồng, giễu hề trên sân khấu đời nhiều hơn chứ chẳng phải vì cái án phạt ấm ớ hội tề có tính cách Ngao, Sò, Ốc, Hến giá trị chưa bằng tờ giấy dùng ở nhà xí.
Chuyện ông Tổng trấn Hà thành Phạm Quang Nghị
Từ khi leo lên được chức vụ Ủy viên Bộ Chính trị kiêm Bí thư thành ủy Hà Nội, Phạm Quang Nghị luôn mồm lầm bầm, lẩm bẩm chửi rũa tên Minh râu tàn mạt. Hắn ta chửi Minh râu là vì lão già này rất khéo đóng kịch. Lão đã làm một cuộc cào bằng long trời lỡ đất khiến hàng trăm ngàn con người bị chết oan, chết tức tửi, đau đớn. Lão đưa đất nước đi đến chỗ tan hoang, nghèo đói, thụt lùi trở về thời lạc hậu gần như ăn lông ở lỗ. Vậy mà cho đến nay, lão vẫn cứ được xưng tụng như bậc thần thánh, được đặt tượng ở chùa chiền, ở khắp các trụ sở ủy ban để khói hương nghi ngút, hoa quả nhang đèn cúng lạy ngày đêm
Nhưng cái mà quan Tổng trấn Phạm Quang Nghị ấm ức nhất là phải luôn xưng “đày tớ” mỗi khi làm việc với dân. Giả dối đến thế là cùng! Quan phải là phụ mẫu của dân chứ! Đúng đứt đuôi con nòng nọc đi rồi! Sao lại phải cứ luôn mồm hô khẩu hiệu “cán bộ là đày tớ của dân”? Thế là nghĩa lý chó gì? Phải làm một cú cải cách chính danh mới được. Ông Ủy viên Bộ Chính trị kiêm Bí thư thành ủy Hà Nội hạ quyết tâm!
Dịp may, thời cơ đã đến!
Cuối tháng 10 đầu tháng 11, cả Hà Nội chìm sâu trong biển nước với cây mưa lịch sử kéo dài dầm dề ba ngày đêm. Sinh hoạt thành phố hoàn toàn tê liệt. Hàng trăm xe máy, xe hơi, xe tải, xe buýt chết máy nằm ngổn ngang. Không ai mò ra đâu là lòng lề đường. Người dân không điện, không dầu, không thuốc men, không nước sạch để uống, không cơm gạo dự phòng để ăn nhưng cùng nhau cố kết bè để di chuyển, chạy lũ tìm chổ cao an toàn cho người già, trẻ em.
Trong lúc đó chính quyền Hà Nội khoanh tay im ắng. Các ban ngành, các lực lượng cảnh sát, an ninh,… đều mất tăm, biệt dạng. Không một bản hướng dẫn tránh lũ. Không một lệnh điều động lực lượng cứu hộ. Không một lời kêu gọi. Không một tiếng hỗ trợ. Tuyệt nhiên không.
Vậy lãnh đạo đi đâu hết cả rồi? Hóa ra, ngay thời điểm người dân khốn đốn, vật vã giữa biển nước để kiếm thân nhân hay thoát thân thì lãnh đạo thành phố đang bận họp tổng kết chiến dịch “bình định giáo dân” và gấp rút xây công viên ở Thái Hà và Toà Khâm sứ.
Nước vừa rút xuống mức an toàn, Phạm Quang Nghị ngồi ô tô vi hành đường phố thấy dân chúng nhếch nhác, cảnh quang hoang tàn, bừa bộn cây ngã, cột xiêu bèn than phiền với ViệtNamNet rằng: “Nhân dân ta bây giờ so với ngày xưa ỷ lại Nhà nước lắm. Cứ chờ trên về, chờ cung cấp cái này, hỗ trợ cái kia chứ không đem hết sức ra tự làm”. Nhưng quan Tổng trấn Hà thành cũng “hồ hỡi phấn khởi” rút ra được kinh nghiệm quí báu, ngài tuyên bố lần nữa trong bữa họp tổng kết: “Trận mưa lụt là cuộc tổng diễn tập lớn cho tương lai.”
Trước những lời lẽ vô trách nhiệm và tàn nhẫn như trên chỉ có thể xuất phát từ cửa miệng của một kẻ không có trái tim (trái tim bị chó ăn) nhưng nó lại do một quan lớn trong cái đảng luôn vỗ ngực xưng danh “vì dân, cho dân, phục vụ dân” mửa ra, nhân dân cả nước đã phản ứng mãnh liệt bằng những lời nguyền rũa thậm tệ và bắt phải xin lỗi ngay.
Ngày 5/11/2008, Phạm Quang Nghị đành phải nói trên ViệtNamNet điện tử: “Tôi thực sự lấy làm tiếc và muốn chân thành xin lỗi bạn đọc, xin lỗi mọi người về những lời gây nên bức xúc và bị phê phán.”
Buộc lòng phải nói như vậy, nhưng trong thâm tâm Phạm Quang Nghị đã rất hả hê vì trút được lên đầu dân chúng Hà Nội cái ấm ức bấy lâu nay nặng như đá tảng trong bụng, cứ phải đóng kịch, sống giả dối theo gương lão Minh râu.
Phạm Quang Nghị tuy bị dân phê phán nặng nề (Chó đâu từng đẻ ra quan! Dân đó chứ! Thế mà sao giờ này vẫn còn cái văn hóa đấu tố của hạng đầy tớ chỉ mặt chủ nhân mà te tái mắng mỏ thế này thế khác? Hay vẫn còn đó cái văn hóa nô lệ trên dưới, xin/cho?… Đinh tấn Lực) nhưng vẫn sướng khoái tỉ, hài lòng và chửi thầm trong bụng: “Bọn dân đen chúng mày vẫn còn mê muội lắm. Tao nói thật lòng mà chúng mày không chấp nhận sự thật, lại đi ca ngợi, tôn thờ những điều giả trá của lão Minh râu suốt đời chuyên đóng kịch, đạo đức giả, luôn dùng nước mắt cá sấu và khẩu hiệu để lường gạt chúng mày. Vậy thì chúng mày cứ ráng mà sống trong “thiên đường mù” này vài ba mươi năm nữa nhá!”
Nhưng không phải người dân nào cũng đều mê muội như quan Tổng trấn Hà thành nghĩ theo cái não trạng tiến sĩ giấy bé hạt tiêu của mình. Ít ra, cũng có một cư dân Hà Nội, ông Hoàng Cúc, nhìn thấy rõ ruột gan của quan, đã hạ bút: “Hình như trong một lúc tỉnh táo hiếm hoi, ông Phạm Quang Nghị đã chợt nhớ tới vở tuồng cũ của vị cha già, nên diễn lại tí chút. Riêng cái món nước mắt sướt mướt dành cho trên hai chục mạng chết đuối giữa thủ đô thì ông Nghị chưa diễn nổi. Hoặc giả số người thiệt mạng còn ít quá, chưa đủ mức để ông diễn lại nguyên vẹn vở tuồng của vị cha già. Dù sao, có lẽ ông sẽ còn phải học tập dài dài tư tưởng và đạo đức của lãnh tụ nọ, may ra mới có ngày chạm tay vào cái dép râu của người mà đám thanh niên gọi là Minh râu.”
Chuyện như thế, hải nội chư quân có cười nổi không?
Chuyện ông Cựu Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu suốt một đời vì đảng, vì nước noi gương đạo đức của bác Hồ giữ mình “công minh liêm chính”, tích cực chống tham nhũng. Mỗi dịp lễ lạc, kẻ cầu cạnh đem hối lộ cho ngài 5 – 10 ngàn đô xanh, ngài nhất định không nhận, sai người đem trả lại. Nài nĩ lắm, ngài mới lấy nhưng kèm theo lời trách mắng. Khi về nghĩ hưu, sống đời sống thanh đạm, rau muối qua ngày. Nhưng để có rau sạch để ăn, ngài tự tay trồng lấy. Vườn rau trên lầu trị giá 20 ngàn đô. Trang trí bàn thờ sống của ngài bằng cặp ngà voi giá trị sơ sơ 50 ngàn đô. Trống đồng, đồ bảo vật của quốc gia, không dám để ở Viện bảo tàng sợ trộm, ngài tình nguyện đem về nhà để ngày đêm canh giữ. Vân vân và vân vân. Nhưng tài sản đơn sơ của nhà ngài so với nhà của Lê Đức Anh, nghe nói còn thua xa tới mười lần.
Khi ngài thất chức, người dân Hà thành kháo nhau: “”ông Phiêu ra đi thì kể cũng đáng tiếc lắm ! Tiếc vì sẽ mất đi một nguồn giải trí to lớn. Bởi sân khấu chính trị ở đây thường là quá tẻ nhạt. Cần có tiếng cười cho đời lên hương chứ !…” vì lúc đương quyền ngài được người dân ưa thích bởi những lời tuyên bố rất hề, rất tếu. Chẳng hạn như cảnh ngài thăm đồng bào đang khốn khổ trong vùng lũ lụt, rồi hình như ông nhập bà nhập, bỗng phát đùa với các trẻ em bằng một câu cà chớn: “Thích hè !… Tha hồ bơi lội, các cháu có vui không ?” nghe lảng nhách! Hoặc Tết Trung Thu, ngài vừa ăn nhồm nhoàm một chiếc bánh lớn vừa nói: “Tôi phá cỗ cùng các cháu có mặt ở đây và… với cả các cháu không có mặt ở đây nữa”. Nghe thật là vô duyên, ngớ ngẩn. Hề bóng Hoài Linh chắc phải lạy mà chào thua. Nhưng câu nói để đời của ngài được in thành sách, âm thanh, hình ảnh vẫn còn lưu lại trong đài phát thanh, đài truyền hình Hà Nội, để nhân viên ở đây mỗi lúc thấy buồn thì giở ra coi lại cho đời bớt… chó.
Số là trong bài phát biểu về công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, ngài Phiêu nói: “Trong thế kỷ 20, nét nổi bật là cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật của thời đại đã sinh ra giai cấp vô sản…” Giời ạ! Giai cấp vô sản đã có từ đời ông Bành tổ chứ có phải do hay nhờ cái cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật của thời đại duy vật biện chứng khỉ tiến hóa lên làm người đâu.
Thế là 120.000 cuốn sách có in bài phát biểu ấy của ngài đã bị hủy bỏ để khỏi lộ cái dốt của ông Tổng Phiêu, “đỉnh cao trí tuệ của đảng”. Đáng tiếc! Đáng tiếc!
Chuyện ông Tổng bí thư Phan văn Khải sang Mỹ, co ro cúm rúm trước Huê Kỳ Đại vương, nói không ra hơi, phải rút tờ giấy to bằng bàn tay trong túi áo ra, dán mắt vào đó, nhưng đọc được mỗi một câu đã được Bộ Chính trị viết sẵn: “Xin chúc sức khoẻ Ngài” rồi tịt. Sau đó ông Tổng bí Khải cùng tùy tùng kéo sang tiểu bang “Mả Cha Chú Chệt” (Massachusetts) để được chính tay mình sờ vào chiếc giầy của bức tượng ông John Harvard, người lập ra trường đại học danh tiếng nhất nước Mỹ, ngồi uy nghi trước khuôn viên trường. Hình ảnh này được giới truyền thông thế giới đặt chết cái tên “Tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam đang ôm chân đế quốc Mỹ” được chiếu đi, chiếu lại trên truyền hình để diễn thành những tiểu phẩm hài giúp vui khán giả. Vân vân và vân vân.
Thành tích diễu hề của các quan chóp bu trong đảng và Nhà nước ta như Tổng bí thư Nông Đức Mạnh, ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, ông Bộ Trưởng Công an Lê Hồng Anh, ông Tô Huy Rứa Ủy viên BCT kiêm Bí thư TW đảng v.v… nếu theo thứ tự kê ra đây chắc phải tốn vài trăm trang giấy nữa.
Nhưng xét “quá trình” những “sự kiện” xãy ra bị sự ngu dốt, ngớ ngẩn biến thành “sự cố” lố bịch của đám lãnh đạo trong Bắc Bộ phủ thì mấy quan trên phải lấy nón cối bái mà chào thua Ngài Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết.
Vậy xin kể vài chuyện về ngài Minh Triết đi ra nước ngoài “tấu hài” để làm cái kết của bài viết này thử xem quí chư vị có cười nổi không.
Chỉ nội cái tên Minh Triết có nghĩa là thông minh, trí tuệ, người hiền… cũng đã rất mĩa mai, trái ngược với cái khuôn mặt rất “Hai Lúa” của ngài rồi. Mấy ngài “nông dân vô sản” khi đi làm “cách mạng” đều có cái tên nghe rất “ấn tượng và hoành tráng” không biết có đúng là do cha mẹ đặt cho lúc mới sinh ra hay là tự mình bắt chước “nổ” theo cách của “cha già dân tộc” tự đặt cho mình vô số tên rất kêu, nghe như tiếng chuông chùa Hàn San gióng lên lúc nửa đêm như: Chí Minh, Ái Quốc, Dân Tiên… Có lẽ muốn cho giống Tàu chệt chăng?
Những cái tên Đức Thắng, Đức Anh, Trường Chinh, Nguyên Giáp, Khả Phiêu, Đức Mạnh, Tấn Dũng… xướng lên cũng nghe kêu boong boong như tiếng Đại hồng chung của Việt Nam Đại Quốc tự ở Bình Dương nhưng thực tế thì con người hoàn toàn ngược lại từ hành vi, ngôn ngữ đến đạo đức, phẩm hạnh, nhân cách… Anh hoa không thấy phát tiết ra ngoài một chút nào đẹp đẻ coi cho được mắt mà làm toàn những chuyện quỷ khốc, thần kinh, trời không dung, đất không tha. Ở trong nước thì hung hăng con bọ xít, thẳng tay dùi cui, súng đạn đàn áp nhân dân. Ra ngoài thì khiếp nhược, hèn nhát với ngoại bang. Thậm chí còn mãi quốc cầu vinh, dâng cả giang sơn đất nước để xin được bảo kê chiếc ngai vàng.
Trở lại chuyện ngài “Hai Lúa Minh Triết”.
Ngày 27 tháng 8 năm 2007, Nguyễn Minh Triết đến công tác tại Tổng cục Chính trị quân đội. Triết nói : “Khẳng định trước sau như một là chúng ta tiến lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải xây dựng đảng của chúng ta. Dù ai nói ngã nói nghiêng, dù ai có muốn bỏ Điều 4 hiến pháp gì đó thì không có chuyện đó. Bỏ cái đó đồng nghĩa với chúng ta tuyên bố chúng ta tự sát, cho nên phải củng cố công tác chính trị tư tưởng, củng cố vai trò của đảng…”
Điều 4 Hiến pháp là lá bùa hộ mạng mà đảng cộng sản Việt Nam tự mình vẻ ra cho mình đeo. Dù bỏ hay không bỏ nó cũng giống như bản Hiến pháp của nước Cộng Hoà Xã nghĩa Việt Nam, có đủ cả 36 món ăn chơi, có cả “vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề” nhưng thực chất nó chỉ là mớ giấy lộn bôi lên đó màu sắc loè loẹt hoa hoè, hoa sói cho thế giới coi chơi chứ nó không có giá trị gì đối với đám dân đen 80 triệu người đang quằn quại dưới ách thống trị độc tài của đảng.
Bạo lực và khủng bố mới là thực chất cầm quyền của đảng. Nhà nước chỉ là công cụ.
Đảng trên tất cả. Mừng Đảng trước, mừng xuân sau. Trung với đảng trước, hiếu với dân sau. Vậy Triết nhai lại Điều 4 giống như bò nhai lại cỏ để làm gì để làm trò cười?
Bỏ Điều 4 là tự sát. Đó là chân lý, là sự thật trần trụi đang làm đảng ta lo sợ ngày đêm.
Dù có bỏ hay không bỏ Điều 4 sớm muộn gì cuộc đời đảng ta cũng sẽ cáo chung như Liên Xô tổ quốc thành đồng vĩ đại và khối Đông Âu mà thôi. Triết hớ hênh mồm miệng, nói lộ ra sự thật mà Bộ Chính trị đang tìm mọi cách để giấu kín và lo sốt vó không biết sẽ xãy ra lúc nào? Và nỗi sợ nhất là liệu lúc đó mình có còn cái chổ để đội nón cối nữa không?
Cái gương Ceaucescu, Honecker, Saddam Hussein… còn đang sờ sờ trước mắt.
Ối thôi! Chỉ mới thoáng nghĩ đến mà đã tháo mồ hôi, lạnh cẳng rồi!
Sau ngày cái miệng Triết ăn mắm ăn muối nói ra điềm gỡ đó, dân đen khốn khổ lại được dịp xả xú báp uất ức, kháo chuyện với nhau, cười thỏa thích rằng Bộ Chính trị giận điên người, gọi Triết đến Bắc Bộ phủ “góp ý phê và tự phê” một trận cháy xém lông mày và đòi truất phế luôn cái chức Chủ tịch nước bù nhìn đó. Triết van nài, lạy như tế sao rằng là do “thần khẩu hại xác phàm”, chớ lòng thì luôn trung thành với đảng. (Nói láo chết liền!). Và xin thề với Bộ Chính trị là từ nay xin chừa. Giống như cảnh nàng Kiều mắc mưu Tú Bà và Sở Khanh bỏ trốn khỏi lầu xanh rồi bị bắt lại, bị đánh đập tàn nhẫn, buộc phải tiếp khách đã cất tiếng van xin: “Thân lươn bao quản lấm đầu – Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa!”. Còn Hai Lúa Minh Triết thì ca cẩm bài ca con cá: “Thân lươn bao quản lấm đầu – Cái miệng bậy bạ về sau xin chừa!”
Một trường hợp khác, Triết vẫn chứng nào tật ấy, vẫn cứ nói nhăng nói cuội như cũ. Sách có câu “Giang sơn dễ đổi bản chất khó thay” thật đúng với con người miệt vườn Hai Lúa Minh Triết.
Năm 2007,Triết dẫn đám Cái bang gồm bầu đoàn thê tử với bộ hạ, thương gia trong nước đông đến vài trăm mạng sang đại quốc Huê Kỳ trình diễn màn hát xẩm để chiêu dụ đám tư bản Mỹ móc hầu bao, đổ đô la vào Việt Nam “hợp tác đầu tư”.
Chuyến đi thật bẽ bàng vì không được Tổng thống Mỹ tiếp đón theo nghi lễ quốc khách. Phần khác lại bị cả ngàn người Việt tị nạn “dàn chào” với rừng cờ vàng và nhiều biểu ngữ, bích chương tố cáo chế độ CS độc tài, bán nước. Nhiều pa nô “đẹp mặt chế độ” như hình ảnh LM Nguyễn văn Lý bị công an bịt miệng tại phiên tòa Huế, hình Hòa thượng Thích Quảng Độ, LS Lê thị Công Nhân, LS Nguyễn văn Đài bị giam cầm người biểu tình giơ cao dọc hai bên đường đoàn xe của Triết và đoàn tùy tùng. Cảnh sát Mỹ phải bảo vệ phái đoàn đi vào Tòa Bạch Ốc bằng cửa hậu mới tránh né được sự bao vây “dàn chào thăm hỏi nồng nhiệt” của “khúc ruột ngàn dặm”.
Ngày 23/6 Triết không dám về thủ đô tị nạn của người Việt Nam, mà phải chọn khách sạn St Regis Monarch Beach Resort ở Dana Point là một thành phố nhỏ với chừng 35 ngàn dân, cách xa Little Saigon độ nửa giờ lái xe về phía San Diego, chiêu đãi khoảng 800 doanh gia Mỹ chánh gốc và Mỹ gốc Việt để làm “mát cơ tin” chào mời họ về Việt Nam làm ăn.
Phía bên ngoài khách sạn có chừng 3000 người Việt tị nạn từ các thành phố lân cận đổ về với một trời cờ vàng ba sọc đỏ để tận tình “dàn chào” ông chủ tịch. Hệ thống truyền thông quốc tế và Việt Nam cũng có mặt rất đông để đưa tin.
Dịp này còn có thêm anh Phó râu kẽm, mắt ốc nhồi của nền đệ nhị Việt Nam Cộng Hòa đi theo sau đít để quợi quợi phụ họa khi Triết biểu diễn màn mãi võ sơn đông, bán thuốc cao đơn hoàn tán xuyên tâm liên trị bá bệnh do Chủ nghĩa Xã hội bào chế.
Nghe hai anh hề “tấu hài” kẻ tung người hứng theo kiểu cương ẩu, không có bài bản biên soạn trước nên trật chìa bậy bạ làm mấy ngàn khán giả đứng dàn chào bên ngoài vừa cười ngặt nghẽo vừa xấu hổ đỏ mặt.
Cười là cười cái cách nói của ông chủ tịch nước giống y chang anh Hai Lúa miệt vườn, chiêu dụ tư bản Mỹ rằng Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa chúng tôi có nhiều gái đẹp lắm, quí ngài nên mau mau đổ tiền vô đầu tư để hưởng thụ kẻo trễ. Còn xấu hổ là bởi anh Phó râu kẽm nói vuốt đuôi, nâng bi anh Hai Lúa vừa trơ trẽn tệ hại vừa hèn mạt quá sức tưởng tượng.
Sau chuyến “hành hương khất thực” không mấy thành không, tưởng chừng trưởng lão Cái bang Minh Triết xách bị rách trở về, ai dè nhờ mấy lời quảng cáo bậy bạ “Việt Nam có gái đẹp” lại trúng tâm bệnh Tề Tuyên của mấy anh tư bản mũi lõ nên số vốn đầu tư của Huê Kỳ sau đó gia tẳng bất ngờ, từ vị trí thứ 8 đã nhảy vọt lên đứng hàng thứ 2 ở Việt Nam.
Nhờ vậy, cái ghế Chủ tịch nước của anh Minh Triết sắp lung lay mấy tháng trước đó lại được gia cố thêm mấy con bù loong thép “Made in USA” “đảm bảo” ngồi cho hết nhiệm kỳ.
Chuyện diễu hài ở Dana Point chưa kịp đi vào quên lãng thì chiều 25/09/2009, trong lúc chờ phát biểu trong khóa họp thường niên 64 Đại hội đồng Liên hiệp Quốc tại NewYork thì phóng viên AP, Mary Altaffer, không biết có ý chơi xỏ ngài Chủ tịch Triết hay không, đã dàn dựng ngài ngồi trên cái ghế đẩu trong tư thế ngay đơ cán cuốc, hai bàn tay đặt ngay ngắn trên đùi, mặt trông rất quỷnh, tại chân cầu thang hội trường, một vị trí rất xúc phạm đối với một vị nguyên thủ quốc gia, giống như một người đang ngồi chờ hớt tóc ở lề đường của mấy bác hớt tóc dạo, để chụp hình.
Bức ảnh của phóng viên AP Mary Altaffer đã gây sự chú ý rộng rãi và bình luận hài hước của giới truyền thông quốc tế. Riêng người Việt hải ngoại cảm thấy quá thương hại cho ông chủ tịch nước Việt Nam Xã nghĩa khi nhìn bức ảnh này.
Vẫn chưa hết, ngày 27 tháng 9 năm 2009, khi qua thăm Cuba, một nước nghèo và lạc hậu không thua gì Việt Nam, Ngài Nguyễn Minh Triết đã bằng lời của ”vợ thằng Đậu”, tuyên bố với báo chí ngay ở phi trường Havana rằng «Có người ví von, Việt Nam – Cuba như là Trời Đất sinh ra, một anh ở phía Đông, một anh ở phía Tây. Chúng ta thay nhau canh giữ hòa bình cho thế giới. Cuba thức thì Việt Nam ngủ. Việt Nam gác thì Cuba nghỉ». Lời tuyên bố «hoành tráng và ấn tượng» này đã làm chấn động giới cải lương chuyên nghề “tấu hài”. Những chuyên viên giễu hề của các trung tâm băng nhạc sống bằng nghề làm hề, chọc cười thiên hạ đều phải chào thua. Cỡ Bảo Quốc, Hoài Linh, Vân Sơn, chỉ đáng xách dép. Còn Nguyễn Ngọc Ngạn chắc phải giải nghệ để đến bái sư Triết để xin làm đệ tử học thêm ngón nghề.
Chỉ có mấy mươi giây mà anh Hai Lúa Triết đã làm cho khán giả vỗ tay và cười muốn tắt thở. Nhất là cách giơ tay, ngoãnh mặt, chỉ bên này để diễn tả cảnh một anh ở phía đông, giơ tay bên kia để chỉ một anh ở phía tây và đặc biệt là nét mặt cứ ngơ ngơ ra như ngỗng ỉa, một bí quyết gây cười đặc thù của Triết, cộng thêm cách nói ngắc nga, ngắc ngứ như bị táo bón đang rặn. Mấy anh Cuba, qua lời phiên dịch, chắc không hiểu được hết cái tiếu lâm trong lời phát biểu. Những âm gác, âm cu, âm nghỉ, người Việt Nam đều nghĩ ngay đến câu tục ngữ “Trên đời có 4 cái ngu: Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu”. Nhưng có lẽ họ nhìn nét rất hề trên mặt của ông Chủ tịch nước Xã nghĩa Việt Nam lúc đó mà ôm bụng cười ngất.
Một ông bạn già hàng xóm, khi xem xong đoạn phim ngắn 36 giây trên Youtube quay lại cảnh Triết diễu hài ở Cuba bèn kể cho nghe một chuyện tiếu lâm tương tự:
- Ngày xưa có một anh chàng ăn nói rất vô duyên. Hễ cứ mở miệng ra là bị người ta cười chế diễu có khi còn bị chửi. Vợ anh ta lấy làm xấu hổ lắm. Vì thế mỗi khi đi dự đám, tiệc trong xóm, làng người vợ đều phải canh chừng anh chồng, dặn chỉ ngồi ăn uống chứ không được lên tiếng góp chuyện để khỏi bị chê cười. Một lần, nhà hàng xóm có giỗ, hai vợ chồng được mời. Hôm đó khách khứa rất đông. Sau vài ly đế, ai nấy đều cười nói vui vẻ. Anh chồng vô duyên cứ ngứa ngáy miệng muốn góp chuyện nhưng bà vợ biết ý, tay cứ cấu vào đùi chồng để ngăn. Gần tan tiệc, hai vợ chồng xin phép gia chủ về trước. Lúc đứng lên từ giã, anh chồng vụt miệng nói, vợ ngăn không kịp:
- Sáng giờ tui chỉ có ăn chớ không có nói gì hết trơn, hết trọi nhen! Lát nữa nếu có ai bị trúng thực hay trúng gió chết là không phải lỗi tại tui đó nghe!
Kể xong, ông kết luận một câu rất “tuồng”, chắc là thuổng từ “phim bộ nhiều tập”:
- Nếu ông Triết cũng như anh chồng hay nói này hổng mở miệng thì đâu có ai biểu là mấy ổng câm há!
Chuyện tiếu lâm của mấy cha nội trong Bắc Bộ phủ, chỉ có nước khóc thét lên đau xót cho đất nước phải chịu ách nạn điêu linh dưới bàn tay của lũ đần chớ thiệt tình là cười hổng nổi./.
Lập dân quân tự vệ biển để giữ chủ quyền biển đảo
DCVOnline – Tin ngắn (AFP, VNN)
Việt Nam thành lập dân quân tự vệ biển để giữ chủ quyền biển đảo
Hà Nội – Quốc hội Việt Nam hôm qua thứ Hai ngày 23 tháng Mười Một đã biểu quyết một dự luật chấp thuận thành lập đơn vị dân quân tự vệ biển để bảo vệ chủ quyền biển của Việt Nam, theo báo chí nhà nước cho hay.
Lực lượng dân quân tự vệ biển này “sẽ hợp tác với biên phòng, hải quân, cảnh sát tuần tra biển và các lực lượng khác để bảo vệ an ninh biên giới và chủ quyền của vùng biển Việt Nam,” theo dự thảo luật mà hãng thông tấn AFP có được một văn bản.
Việt Nam có bờ biển dài 3.200 cây số và muốn phát triển tiềm năng lãnh hải của mình mặc dù có sự tranh chấp lâu dài với các nước láng giềng, đặc biệt là Trung Quốc, về vấn đề chủ quyền ở biển Nam Hải.
Thượng tướng Nguyễn Khắc Nghiên. Nguồn: QĐND
Bắc Kinh và Hà Nội có sự tranh chấp trên quần đảo Hoàng Sa, mà Trung Quốc đã dùng võ lực tấn công quân đội miền Nam đang đồn trú ở đó và chiếm đảo này từ năm 1974 chỉ một thời gian ngắn trước khi cuộc Chiến tranh Việt Nam chấm dứt.
“Nhưng cũng phải nói rõ, chúng ta xây dựng lực lượng dân quân tự vệ nhằm bảo vệ lợi ích, chủ quyền của ta, không nhằm chống ai,” ông Lê Quang Bình, chủ nhiệm ủy ban Quốc phòng – An ninh của Quốc hội trả lời trong một cuộc phỏng vấn gần đây của báo VietnamNet.
Báo chí Việt Nam trong những tháng vừa qua đã tường thuật những sự cố ngư phủ Việt Nam bị tấn công hay cướp bóc bởi “tàu lạ” trong lúc đang đánh bắt cá trong vùng biển vủa Việt Nam.
Tuy nhiên, Tổng tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Thượng tướng Nguyễn Khắc Nghiên nhấn mạnh sẽ không có việc trang bị vũ khí cho lực lượng dân quân tự vệ biển trong điều kiện sinh hoạt sản xuất bình thường.
“Trong thời bình, lực lượng dân quân tự vệ biển vừa hoạt động sản xuất, vừa có thể tham gia vào các hoạt động cứu hộ, cứu nạn trên biển hay tham gia các hoạt động khác khi Nhà nước yêu cầu. Chỉ khi có chiến tranh xảy ra, ta trang bị vũ khí thì họ mới trở thành lực lượng chiến đấu”, ông lý giải thêm.
Điều này trái ngược với câu trả lời phỏng vấn của ông Lê Quang Bình khi trả lời ký gỉa Phương Loan của VietnamNet hôm 29 tháng Mười, qua đó ông khẳng định “các tàu đánh bắt cá cũng đã được hỗ trợ để trang bị thiết bị: đài để nghe dự báo thời tiết, máy để liên lạc với bờ… Ngoài ra, dân quân tự vệ biển có trang bị súng và hỗ trợ khác.”
Được biết trong qúa khứ, tàu đánh cá Việt Nam đôi khi được trang bị vũ khí, “nhưng khi vào vùng biển nước ngoài, họ bị quy là cướp biển,” theo ông Lê Quang Bình, nhưng không thấy ông nói rõ vùng biển nước ngoài là vùng nào, khi đại đa số ngư phủ Việt Nam chỉ đánh cá trong lãnh hải Việt Nam bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và ai là người quy kết họ tội cướp biển?
© DCVOnline
Nguồn:
(1) Vietnam to set up militia to protect sea borders. AFP, 24 November 2009
(2) Sẵn sàng bảo vệ vùng biển quốc gia. VietnamNet, 11 tháng Mười Một năm 2009
(3) “Lập dân quân tự vệ biển để giữ chủ quyền biển đảo”. VietnamNet, 29 tháng Mười năm 2009
Phiên tòa Kangaroo
TRích Bauxit VietNam
Hiệu Minh
Người mê chơi cờ đang nghĩ về hai người Ngọc Sương và Ngọc Sỹ, cùng đệm là “Ngọc” trong mấy vụ án qua. Một người như quân Sỹ trong bàn cờ tướng, luôn đứng cạnh vua, được bảo vệ chu đáo. Người kia như con Tốt đội nón mê, một nắng hai sương với đồng loại nghèo khó, bị “thí” một cách thảm hại.
Bà Trần Ngọc Sương
Ngày 19/11, Tòa án nhân dân TP Cần Thơ đã đưa vụ án “Lập quỹ trái phép” tại Nông trường Sông Hậu ra xét xử phúc thẩm. Tại đây, HĐXX đã tuyên y án sơ thẩm 8 năm tù giam, buộc bồi thường hơn 4,3 tỷ đồng đối với bà Trần Ngọc Sương, nguyên Giám đốc Nông trường.
Nhân thân: Anh hùng lao động. Bà Ngọc Sương là con gái của Giám đốc tiền nhiệm Trần Ngọc Hoằng. Người cha đã một nắng hai sương với hàng chục ngàn nông dân nơi đây, đưa Sông Hậu thành nông trường anh hùng. Bà Sương, kế tục sự nghiệp của người cha, đã giúp miền đất nghèo khó thành nơi trù phú của 16 ngàn người. Bà rất nổi tiếng, từng thăm gần 40 quốc gia trên thế giới, từ Đông – Bắc Á tới Âu – Mỹ – Phi để tìm hiểu thị trường, khai thác cơ hội kinh doanh.
Thân nhân: Nghe nói hàng trăm đoàn cao cấp khác nhau của chính phủ đã tới đây thăm viếng và khen ngợi nông trường này. Có lẽ phần lớn số tiền trong “quĩ đen” kia được đem ra chi cho các tiệc tùng đón các quan lớn, phong bì, tìm đối tác. Cơ chế nước mình nó thế, không bôi trơn khó lòng được việc.
Cho tới thời điểm này, không thấy các thân nhân ”lớn” lên tiếng. Tuy nhiên có các thân nhân “nhỏ bé” là hàng trăm người dân nghèo xin được đi tù thay cho bà Sương.
Bà Sương cũng được một người “hưu” quan tâm. Khi nghe tin bà bị phạt tù, nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình phải thốt lên về sự bất công trong lời tuyên án.
Dư luận có 3 tờ báo lớn VietnamNet, Tuổi Trẻ, Tiền Phong liên tục đưa tin về vụ án mà Luật sư bào chữa gọi là “bắn đại bác vào quá khứ anh hùng”.
Trời mới biết động cơ đứng đằng sau vụ án này là gì. Hàng nghìn hecta đất của nông trường do mấy 16 ngàn nông dân đào đắp, khai phá từ 30 năm nay, bây giờ có thể thành miếng mồi ngon cho các nhà đầu tư. Hội nhập nên có những cơn “sốt đất” thay vì “sốt vàng”.
Người ta ngạc nhiên về một người anh hùng, bị buộc tội dùng quĩ đen mấy tỷ đồng, mà cuối đời bà Sương không nhà, không cửa, ngủ trên một cái giường cá nhân với 8 năm tù đang đợi. Nghịch cảnh rơi nước mắt.
Ông Huỳnh Ngọc Sỹ
Vụ này báo chí đưa tin quá nhiều. Công ty PCI của Nhật có mấy nhân viên bị bắt đã khai là đưa cho ông Huỳnh Ngọc Sỹ hơn 800 ngàn đô la gọi là 10% lại quả để kiếm hợp đồng tư vấn xây dựng Đại lộ Đông Tây.
Do sức ép của phía Nhật, sau nhiều lần trì hoãn, ông Sỹ đã bị bắt vì tội khác, không liên quan gì đến số tiền 16 tỷ đồng.
Nhân thân: Trong ngày tuyên án ông Sỹ với mức phạt 3 năm tù giam, Tòa nói ông này có rất nhiều đóng góp cho xã hội, được tặng thưởng nhiều huân huy chương, gia đình có công cách mạng, phạm tội trong hoàn cảnh công việc “quá tải”… nên giảm nhẹ cho một phần hình phạt.
Ngoài ra, chủ tọa Nguyễn Đức Sáu cũng cho biết, trước khi vụ án được đưa ra xét xử, tòa ánTP HCM đã nhận được rất nhiều đơn từ, công văn của các ban ngành, tập thể “tha thiết” đề nghị tòa công minh xem xét giữa công và tội, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Thân nhân: Không có thân nhân nào đáng kể. Không thấy ai to to lên tiếng tầm cỡ như bà Nguyễn Thị Bình.
Lời kết
Luật sư của bà Sương định đọc danh sách những người xin đi tù thay bị Tòa án Cần Thơ gạt đi, suýt bị đuổi ra ngoài. Phía ông Sỹ lại được chính quan tòa Tp HCM thông báo về nhiều người “tha thiết” xin giảm nhẹ cho bị cáo.
Cách đối xử phân biệt này tại tòa làm người ta liên tưởng đến quân Sỹ và quân Tốt trên bàn cờ tướng.
Ở những nước kém phát triển, luật pháp “xử có tội cũng được, xử vô tội cũng được” xảy ra như cơm bữa. Dân chúng quen với những vụ án “điểm” được kết thúc như thế nào khi tòa án không được độc lập. Nhân chứng hay lời khai trước tòa không quan trọng bằng sự chỉ đạo phía sau màn nhung.
Chuột túi. Ảnh: KANGAROOS.ORG
Cách đây 160 năm (1849) khi có chuyện Gold Rush (sốt tìm vàng) ở California (Mỹ) làm cho mấy trăm ngàn người khắp nơi trến thế giới kéo tới đây tìm vận may.
Đó là một nơi luật trong tay kẻ mạnh nên mọi cuộc xử án tranh chấp được quyết từ trước khi phiên tòa xảy ra. Người ta không quan tâm đến chứng cứ mà dựa trên ý kiến của một vài tay mafia hay cao bồi trong bóng tối.
Dân Mỹ gọi kiểu tòa án này là tòa án Kangaroo (Kangaroo Court), xử không cần nhân chứng, vật chứng. Kangaroo là chuột túi ở Úc, chả liên quan gì đến tòa án. Nhưng Kangaroo mẹ hay cho con vào túi bụng.
Những vị quan tòa đến xét xử đã có bản án sẵn trong túi nên mới gọi kiểu xử này là Kangaroo Court chăng?
Đương nhiên, không thể so sánh nông trường sông Hậu với cơn sốt đất như Gold Rush và Kangaroo Court ở California của nước Mỹ cách đây một thế kỷ rưỡi.
Thế giới hội nhập ngày nay phức tạp hơn nhiều, ngọc thật và ngọc rởm rất khó phân biệt.
H. M. 22-11-2009.
Dân biểu Mỹ lại đòi thả linh mục Lý
Trích BBC News
Linh mục Nguyễn Văn Lý đã bị đột quỵ hai lần trong năm nay
Một nhóm sáu dân biểu Hoa Kỳ lại gửi thư cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu trả tự do cho linh mục bất đồng chính kiến Nguyễn Văn Lý.
Ông Lý vừa phải nhập viện sau khi liệt nửa người vì tai biến mạch máu não lần thứ hai trong năm. Tới nay, được tin sức khỏe ông đã tiến triển tốt hơn.
Bức thư có chữ ký của các dân biểu Christopher Smith, Loretta Sanchez, Cao Quang Ánh, Zoe Lofgren, Frank Wolf và Edward Royce đề ngày 19/11/2009 viết: “Chúng tôi nhận được thông tin gây quan ngại, rằng linh mục Nguyễn Văn Lý bị đột quỵ lần thứ hai hôm 14/11/2009″.
“Chúng tôi hiểu là Cha Lý đang được chữa trị tại Hà Nội và thân nhân của ông được tiếp cận chăm sóc ông một cách hạn chế.”
“… Chúng tôi trân trọng yêu cầu Chính phủ Việt Nam trả tự do vô điều kiện vì lý do nhân đạo cho linh mục Lý, người mà chúng tôi tin là tù nhân lương tâm.”
Bức thư của các dân biểu cũng nói trong cuộc đối thoại nhân quyền thường niên giữa Việt Nam và Hoa Kỳ hôm 10/11, đại diện chính giới Mỹ đã bày tỏ quan ngại về trường hợp linh mục Nguyễn Văn Lý, một trong những người mà họ cho là bị sách nhiễu vì thúc đẩy dân chủ và tự do tôn giáo ở Việt Nam.
Linh mục Nguyễn Văn Lý đã bị tai biến mạch máu não lần đầu năm nay hồi tháng Bảy.
Ông Lý bị Tòa án Nhân dân Thừa Thiên Huế phạt tù tám năm hồi tháng 04/2007 vì tội Tuyên truyền chống Nhà nước XHCN Việt Nam, theo Điều 88 Bộ Luật Hình sự.
Vụ xét xử và án tù dành cho linh mục Nguyễn Văn Lý đã gây phản ứng gay gắt từ một số chính trị gia Hoa Kỳ.
Đầu tháng Bảy năm nay, một nhóm 37 Thượng nghị sỹ Hoa Kỳ thuộc cả hai đảng Dân chủ và Cộng hòa đã gửi thư cho Chủ tịch Việt Nam Nguyễn Minh Triết yêu cầu thả linh mục Nguyễn Văn Lý “ngay lập tức và vô điều kiện”.
Họ cũng tìm kiếm thêm thông tin về điều kiện sức khỏe của ông Lý.
Linh mục Nguyễn Văn Lý đã bị xử tù ba lần, tổng cộng 14 năm, từ những năm 1970 vì theo đuổi phong trào tự do tôn giáo và dân chủ.
Năm 2001 ông bị tù sau khi kêu gọi Mỹ cân nhắc bỏ cấm vận vì các vi phạm nhân quyền của Việt Nam. Sau đó ông được ân xá năm 2005 trướ ckhi bị bắt lại và bỏ tù năm 2007.
Linh mục Lý là một trong những người sáng lập khối đấu tranh dân chủ 8406.
Trung Quốc – Rồng thật hay Voi giấy?
Trích TuanVietNamnet
Tác giả: GSTS Nguyễn Mạnh Hùng – Đại Học Laval (Québec, Canada)
Hiện, TQ có thể ví như một con voi. Voi bằng giấy (phủ đôla móc từ thặng dư lao động của nông dân phải đi làm công nghiệp trên thành phố), với ba chân đất sét (với môi trường bị tàn phá, lao động lão hóa, và bất bình đẳng trong phân bố lợi tức) và một chân bằng gỗ….
Nếu tính tổng sản lượng GDP, TQ có nền kinh tế đứng thứ 3 trên thế giới, với ¼ dân số địa cầu. Nếu tính GDP/đầu người thì hiện 130 triệu người TQ làm được 1 đôla mỗi ngày. 35% dân số – tức trên dưới 455 triệu người – chỉ thu nhập dưới 2 đôla mỗi ngày, tức ở mức 700-750 đô la/năm. So vớí thế giới, người TQ vẫn chưa phải là nước giàu.
Chế độ an sinh (lợi tức hưu trí, y tế xã hội…) ở TQ còn phôi thai. Mức bất bình đẳng phân bổ ở mức cao – đo bằng chỉ số Gini, cảnh báo tiềm ẩn xung đột lớn. Nếu xét đến mức phân bố theo vùng, rạn nứt giữa những khu kinh tế đặc biệt ở duyên hải và những thành phố lớn đối với nội địa (mà nông nghiệp là chính) càng ngày càng lớn. Ngoài ra, TQ phải đối mặt với hiện tượng “lão hóa” trong cơ cấu dân số. Kèm theo đó là vấn đề môi trường bị tàn phá ở mức trầm trọng vì kỹ thuật kém và vì tầm nhìn ngắn.
TQ đã khởi đầu công nghiệp nặng và trung, nhưng vẫn còn tập trung trong khâu công nghiệp nhẹ để xuất khẩu. Năm 2010, TQ sẽ là nước có mức xuất khẩu lớn nhất thế giới, nhưng vẫn ở thế “kẹt” vì phải dùng đôla làm tiền tệ thanh khoản. Những nước mới nổi BRIC (gồm Brazil, Ấn, Nga, và Trung Quốc) bàn nhau về phương sách thay thế đồng đôla. Tuy nhiên, có sớm cũng phải 5 đến 7 năm tới việc này mới khả thi, và với điều kiện BRIC duy trì được mức đoàn kết tối thiểu. Điều này xét trong bối cảnh các quan hệ Ấn – Trung và Nga – Trung. Chẳng mấy dễ dàng.
Hình minh họa. Nguồn: Corbis
Nhưng nếu cứ có khả năng “ổn định” củng cố tập quyền về mặt chính trị, chuyện vào vai siêu cường của TQ là có cơ sở. Siêu cường – chẳng phải vì TQ có kỹ thuật không gian cao, đóng được tầu ngầm nguyên tử, hay phóng được tên lửa mang đầu hạt nhân xa 2000 km (theo sau Mỹ 20 năm). Trung Quốc có thể trở thành siêu cường vì đã bỏ vốn đi buôn, đồng thời cầm giữ đôla như giữ lửa trong tay. Trung Quốc có thể trở thành siêu cường vì – như Âu châu đầu cuộc Cách mạng Kỹ Nghệ thế kỷ 18- 19 – “vắt sức” của giai cấp lao động trong nước và lũng đoạn tài nguyên từ những nước nghèo ở các châu lục khác. Trung Quốc hoàn toàn có khả năng trở thành đế quốc mới, nhưng hiện thực vẫn phải tùy thuộc thời gian trả lời. Nhưng, lực cản đã xuất hiện. Tây Âu, Nhật, Nga…bắt đầu quan tâm và có phản ứng trước chính sách kinh tế đối ngoại của TQ. Do còn vướng tay giải quyết vấn đề kinh tế mỗi nước, hiện họ chỉ đánh động nguy cơ trước “quyền lực mềm” và khẩu hiệu “đôi bên cùng có lợi” (win-win) “hài hòa” của Bắc Kinh.
Hiện, TQ có thể ví như một con voi. Voi bằng giấy (phủ đôla móc từ thặng dư lao động của nông dân phải đi làm công nghiệp trên thành phố), với ba chân đất sét (với môi trường bị tàn phá, lao động lão hóa, và bất bình đẳng trong phân bố lợi tức), một chân bằng gỗ (quân đội trung kiên với quyền lực chính trị). Nhưng TQ đã cấm quân đội “làm ăn”. Chân gỗ hẳn chẳng còn được đóng đế sắt, và lung lay thế nào thì xin đợi vòng quay sau của bánh xe lịch sử.
Một Trung Quốc trong vai đế quốc thế kỷ 21? Vào vai siêu cường còn khó khăn thì khả năng TQ trở thành đế quốc vẫn là một viễn cảnh chưa thể hình dung được. Ngược dòng lịch sử, Đế quốc La Mã khai sinh từ một tổ chức quân đội kỷ luật và có khả năng kỹ thuật cao, sau rao giảng Kitô giáo – một hệ thống giá trị hoàn thiện hơn những nền văn hoá phôi thai ở Âu châu thời đó. Đế quốc của Hồi giáo đến sau, quân lực hùng hậu, phát triển thêm một nền khoa học. Với kỹ thuật dẫn thủy độc đáo, và kèm vào kinh Coran, cũng từ truyền thống tôn giáo vùng Trung-Cận Đông, họ mang tới châu Phi những giá trị mới. Đế quốc Anh, thống trị mặt biển, khai mào cùng một số nước Âu châu chính sách thuộc địa, mang theo hành trang những tư tưởng thời Phục Hưng và Khai Sáng. Đế quốc Mỹ, thắng Thế Chiến II, chia thế giới thành hai, rồi đi rao giảng những giá trị Dân chủ, Tự do…
Kể sơ như vậy, dẫu biết là không đầy đủ, nhưng tôi vẫn nói nhằm nhấn mạnh hai điểm sau: điều kiện cần để thành Đế quốc là lực lượng quân sự và kỹ thuật (kể cả kỹ thuật chiến tranh) cao; và điều kiện đủ là một hệ thống giá trị mới đi kèm, có khả năng thay thế những giá trị cũ kỹ lỗi thời. Về điểm đầu, TQ còn khá lạc hậu so với tiềm lực quân sự những nước tiên tiến. Về điểm thứ hai, thật khó tưởng tuợng nổi một hệ thống giá trị thời Xuân Thu-Chiến Quốc xưa hàng mấy ngàn năm lại có thể ảnh hưởng lên những con người thời đại hôm nay, với những phương tiện truyền thông hiện đại.
Dù có lập 70 Văn Miếu thờ Đức Khổng ở nhiều nơi trên trái đất, và mặc dầu không có ác cảm gì với nhà tư tưởng này, tôi vẫn tự thấy mình quả rất khó chấp nhận khi tưởng tượng ra một thanh niên da đen sì sụp lạy Đức Khổng, miệng lẩm nhẩm “Quân”, “Sư”, “Phụ”…như thứ bùa chú để giữ ổn định cho những vị lãnh đạo Phi châu. Việc đi xây Văn Miếu này chứng tỏ những nhà lãnh đạo TQ đang bế tắc trong sự tìm kiếm một mô hình văn hóa có giá trị phổ quát toàn cầu ở ngưỡng cửa thế kỷ 21 này.
Bàn cờ mới – Thế trận mới
Năm 2010 tới đây là một năm bản lề. Ở khía cạnh lạc quan như chuyên gia nói kinh tế Tây Âu và Mỹ sẽ tăng trưởng – nhưng chừng mực nhất định. Ở góc độ bi quan, nhiều người cho rằng kinh tế sẽ trồi sụt kiểu chữ W, vì vẫn còn bong bóng, và những cứ liệu căn bản không có gì mới mặc dù giá chứng khoán có tăng từ tháng 3 – 2009.
Quay lại thời kỳ Cục dự trữ Liên Bang Mỹ bơm hơn một ngàn tỉ vào nền kinh tế hầu cứu ứng nan đề “cạn nguồn” tín dụng – lý do khiến những đại công ty tài chính và ngân hàng không cho vay, cơ xưởng đình trệ, tức nền kinh tế “thật” suy thoái. Tín dụng (tiền tệ) là giấy, ảo, và là đơn vị trung gian giữa mua và bán những mặt hàng thật ( như trả lương lao động, mua nhiên vật liệu… chẳng hạn). Trên lý thuyết, bản vị trung gian tín dụng không tác động lên nền kinh tế “thật”, nhưng trong thực tế cuộc trầm thoái vừa qua, thì không thế.
Tại sao? Giới tài phiệt đã đi qua chức năng truyền thống của ngân hàng, lao vào hoạt động đầu cơ may rủi qua những quĩ đầu tư, và ngay khi được hỗ trợ, họ giữ tiền chứ không cho vay để bôi trơn hoạt động kinh tế “thật”. Bằng chứng là: vài tháng sau khi nhận tiền, khi chính phủ Mỹ định kiểm soát “tiền thưởng” của lãnh đạo những tập đoàn kinh tài vẫn lên đến 900 triệu đô (trong năm 2008 thua lỗ), họ đòi trả lại tiền đã nhận và từ chối không cho chính phủ Mỹ “điều tiết” tiền thưởng của họ! Mặc dù tân Tổng thống Obama được dư luận quần chúng ủng hộ, ông ta cũng đành “chịu thua”.
Wall Street thắng Main Street, tài phiệt đã xử dụng nền kinh tế “thật” như con tin để ép nhà nước Mỹ lấy tiền dân cung ứng hỗ trợ họ. Mới đây, trong hội nghị thượng đỉnh G-20 ở Pittsburg, những điều kiện chế tài vẫn lỏng lẻo, thậm chí đề nghị đánh thuế mua bán chứng khoán để giới hạn hoạt động đầu cơ thôi mà cũng không được thông qua. Với lãi suất hiện ở mức bằng 0, người ta cứ vay đôla mà không phải trả lãi, mang đi mua chứng khoán ở những nơi giá trị tiền tệ tăng lên so với đồng đôla, tạo ra khả năng thổi những quả bong bóng mới trên thị trường. Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy mạnh miệng lên tiếng nhiều lần, cho rằng tương lai của kinh tế tư bản thị trường mấp mé bờ vực phá sản với sự lũng đoạn của khu vực tài chính – ngân hàng, nhưng tiếng ông dường như rơi vào thinh không. Đây có lẽ là vấn đề cam go nhất của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa: “ảo” thắng “thực”, và tài phiệt chễm chệ trên đầu mọi người (kể cả tổng thống, thủ tướng, quốc hội) ở những quốc gia dân chủ tiên tiến.
Sau trầm thoái, phân bố quyền lực kinh tế (và chính trị, như hệ luận) sẽ khác. Bên mất đi, hay suy giảm là các nước Mỹ, Nhật, Tây Âu và những nước Đông Âu mới gia nhập Cộng đồng châu Âu. Bên được là những nước nhiều tài nguyên, như Brazil, Nga, Úc, Canada. Còn TQ vẫn tiếp tục tăng trưởng, và nhân cơ hội sử dụng đôla đi buôn tài nguyên và đi “buôn vua” – kiểu Lã Bất Vi thời Chiến quốc, chắc sẽ phát huy trong một chừng mực nhất định vị trí của mình. Ở châu Phi, TQ giữ vai bảo kê cho những chính quyền độc tài, thao túng quyền lực chính trị địa phương, khai thác tài nguyên đồng thời để lại di sản là môi trường bị hủy hoại, mượn tiếng sử dụng lao động để di dân hòng đối phó vấn đề nhân mãn (ở mẫu quốc), tìm cách kiểm soát và điều hành yếu tố sinh tử là nguồn nước.
Về thực lực khoa học – kỹ thuật, TQ chưa phải là tiên phong. Và mang những giá trị phong kiến Khổng-Mạnh ra rao giảng như hệ lý luận trụ cột cho phương thức “ổn định để phát triển” đúng là đi giật lùi ít ra hai ngàn năm. Trong tình huống trầm thoái kinh tế toàn cầu, với túi đôla khổng lồ, TQ hoàn toàn có khả năng bành trướng. Nhưng mức độ phủ bóng của Trung Quốc chỉ trong một chừng mực, vì khi tương đối ổn định, những cường quốc kinh tế khác sẽ không thể ngồi yên xem con Rồng Trung Quốc tự do vẫy vùng mãi. Phi châu là chiến trường của cuộc xâm lăng kinh tế thế kỷ 21, và sự cố Tân Cương hẳn sẽ tác động tiêu cực lên cách người Phi châu – mà đa số theo đạo Hồi nghĩ – về khả năng hợp tác “hài hoà” với Bắc Kinh.
Tóm lại, thế giới thế kỷ này là thế giới đa cực: điều này rất tích cực, cho phép những nước chưa phát triển – trong đó có Việt Nam – thời cơ hợp tác đa phương với mọi đối tác. Quốc gia nào khép mình bó chặt vào bất cứ một quan hệ đơn phương nào cũng là tự nhốt mình trong cũi.
Quan hệ phức tạp Việt – Trung
Dân gian có câu “bán anh em xa mua láng giềng gần”. Đó là trong việc cưu mang nhau. Nhưng nếu không cưu mang mà còn ngược lại, thì Việt Nam rất cần anh em xa để “hài hòa” các mối quan hệ. Hai lần Bắc thuộc mà Việt Nam chưa biến thành quận huyện TQ là điều thần kỳ. Ai đó coi chuyện Việt Nam phải vào quỹ đạo kinh tế của TQ như điều tất yếu hiển nhiên là một sai lầm chiến lược mà hậu quả là truyền đời.
Người Việt đã đổ ra không biết bao nhiêu xương máu và nước mắt để giữ nước. So với thời Nguyên Mông lùa quân sang xâm chiếm nước ta vào đời nhà Trần thì có hai điều phải xác minh ngay. Tương đối mà nói, Nguyên Mông xưa hùng cường hơn TQ ngày nay nhiều (đặt trong bối cảnh lịch sử từng thời kỳ). Và họ dùng quân sự để thôn tính nước khác, vì cách đây 500 năm chưa có những hình thái khác. Ở thế kỷ này, dùng giải pháp quân sự đi xâm lăng là bất cập. Thay vào đó là xâm lăng kinh tế, với sự đồng lõa của quyền lực chính trị địa phương. Thâm-và-hiểm hơn nữa, song song với kinh tế là xâm lăng văn hóa qua phim ảnh, sách báo, truyền hình, xây Văn Miếu, tượng đài… cho chiến lược đồng hóa.
Trở lại đời nhà Trần, Vua gọi họp Hội nghị Diên Hồng tìm đồng thuận toàn dân. Trần Hưng Đạo bỏ thù nhà để lo đền nợ nước, quan tướng một lòng, không chia rẽ vì cái tư riêng, góp sức với nhau cứu lấy sơn hà. Đời nay, thiển nghĩ cũng phải vậy. Xin hãy chấn dân khí, vì dân là nguồn lực chính giữ nước. Nước nhỏ, chúng ta hòa hiếu (theo nghĩa khác hẳn “bạc nhược”). Nằm sát nách một thế lực lớn, chúng ta tránh đụng độ, “nhu” hơn là “cương” – “như” hiểu theo nghĩa không có nghĩa là nằm chết nhẹp. Không “tham-sân-si”, nhưng cũng không “bài xích” một người-láng-giềng-lớn. Chúng ta đã từng chung sống hòa bình với nhân dân TQ. Chúng ta có thể tiếp tục sống với họ, bên cạnh họ, trong khuôn khổ “tương kính tương thân”.
Ngoài ra, còn kể đến các “anh em xa” – hiểu rộng ra là cả cộng đồng quốc tế muốn xây dựng một thế giới công chính. Phần tôi, tôi tin là có một nhân loại tiến bộ, công bằng, hành xử có chuẩn mực đạo lý, không làm ngơ trước “bá quyền”. Người Việt Nam – không chỉ lớp lãnh đạo và chính quyền, làm thế nào để được sự hỗ trợ anh em vừa nói là điều đáng suy ngẫm. Và đó là yếu tố cho phép chúng ta tiếp tục tồn tại như một dân tộc.
-
Archives
- December 2009 (4)
- November 2009 (18)
- October 2009 (25)
- September 2009 (21)
- August 2009 (29)
- July 2009 (37)
- June 2009 (38)
- May 2009 (7)
-
Categories
- 487
- Bài báo hay
- Bình luận
- Biểu tình chống Trung Cộng
- Chính trị
- Diễn đàn
- Hàng hóa Trung Cộng
- Hoa Kỳ và Trung Cộng
- Hoa Kỳ và Việt Cộng
- Kinh tế
- Lịch Sử
- Nữ quân nhân Quân lực Việt Nam Cộng Hòa
- Phiếm luận
- Quan hệ Trung Cộng và Việt Cộng
- Tham quan Việt Cộng
- Thiên tai ở Việt Nam
- Trung Cộng và Biển Đông
- Trung Cộng và môi sinh vùng Đông Nam Á
- Trung Cộng và ngư dân Việt Nam
- Trung Cộng và thế giới
- Việt Cộng và "phịa sử"
- Việt Cộng và dân oan
- Việt Cộng và Hàn Quốc
- Việt Cộng và nghị quyết 36
- Việt Cộng và tôn giáo
- Việt Kiều và Việt Cộng
- Văn học
- Xã hội
- Đạo đức thời đại Hồ Chí Minh
- Đức Đạt Lai Lạt Ma và Cộng đồng Việt Nam
-
RSS
Entries RSS
Comments RSS